bao the gioi


Ý NGHĨA CỦA MỘT CUỘC ĐẤU TRANH
Bảo Giang


Viết nhân ngày LM Nguyễn văn Lý, Ls Lê thị Công Nhân, Ls Nguyễn văn Đài, Nguyễn Phong... và nhiều người tranh đấu khác đã bị Việt cộng giam giữ từ hai năm qua...

Lịch sử Việt Nam là lịch sử ghi chép những trang chiến tích lâu dài. Trong ấy đã ghi lại rất nhiều chương oanh liệt, nhiều chương hào hùng về những cuộc chiến diệt Nguyên, đánh Tống, đuổi Minh, dẹp Thanh, kháng Pháp và gần đây nhất, là ý chí hào hùng của dòng dõi Việt Nam, đã oanh liệt chiến đấu với Tàu cộng trên đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào năm 1974. Có thể nói, tất cả những cuộc chiến này đều có chung một mục đích duy nhất là: bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quê hương và bảo vệ sự trường tồn của nòi giống Việt Nam.

Theo đó, trong suốt tiến trình dài lập quốc, kiến quốc và giũ nước. Lịch sử Việt Nam đã vinh dự ghi vào trong sử sách của mình những đấng Quân Vương, Công Hầu, Lương Tướng vĩ đại, như: Ngô Quyền, Lý thường Kiệt, Trần Hưng Dạo, Lê Lợi, Quang Trung. Rồi bên cạnh những anh kiệt của non sông ấy, lịch sữ Việt Nam còn ghi đậm nét vinh quang của hai Bà Trưng , bà Triệu. Tuy ngai vị của các bà không lâu bền như nhiều triều đại khác. Nhưng bao lâu dòng sông Hát còn chảy trên giang sơn Việt, thì bấy lâu tên tuổi của hai vị nữ thánh ấy còn ngự trị với non sông. Bao lâu còn có người nói tiếng Việt, thì bấy lâu tên tuổi của Nhị Trưng vẫn còn được lưu truyền trong lòng người.

Đó là lịch sử chống ngoại xâm và toàn dân ta đã một lòng, một dạ vì non nước. Nhưng khi nói đến lịch sử, chúng ta không thể nào không nhắc đến hai cuộc chiến khác, được coi là “nội chiến” đã làm ly tán và phân hóa lòng người: Đó là cuộc nam bắc phân tranh thời Trịnh-Nguyễn. Và cuộc chiến giữa người Quốc Gia và bọn Cộng Sản từ sau năm 1930 đến nay.

Tuy nhiên, thực chất của cuộc chiến Nam Bắc triều chỉ là cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng giữa hai dòng họ Trịnh và Nguyễn, rồi lây lan ra cuộc binh đao , gây bất ổn cho nhân dân hàng trăm năm. Tuy nhiên, ở đây không có vấn đề ý thức hệ được đặt ra, và ngươi Việt ở hai miền, với hai triều đại cai trị bằng những luật lệ khác nhau. Nhưng chung quy vẫn tụ về một điểm chính yếu là thông nhất sơn hà, bảo vệ vẹn toàn cương thổ tiền nhân và nhất là giữ gìn và phát triển nền luân lý, đạo đức của giống nòi. Nên cho dù cuộc chiến có kéo dài qua nhiều đời vua chúa, cả hai miền gánh chịu dau thương, chia lìa, nhưng vẫn còn chung nhau một nguồn gốc của lịch sử, nguồn gốc của văn hoá dân tộc. Theo đó, dù trong cuộc chiến, hay sau cuộc chiến Nam Bắc triều. Tuy có đau thương, nhưng có thể nói là Nhà Việt Nam vẫn có chung một hướng đi và lòng dân không mang nặng nỗi ly hận, oán thù và phân hoá.

Nhưng, bản chất cuộc chiến giữa Quốc Gia và Cộng Sản từ 1930 đến nay thì hoàn toàn khác biệt với cuộc chiến nam bắc triều trước kia. Khác từ phương thức sử dụng, đến ý thức định nghĩa trong cuộc chiến. Khác từ tính chất đến bản sắc của cuộc chiến. Và hệ qủa từ ngày gọi là tàn chinh chiến đến nay, mỗi lúc một thêm phân hóa lòng người.

Tại sao lại có sự phân hóa ấy?

Tôi xin được tóm gọn lại trong vài điểm khác biệt làm nền cho mỗi bên trong cuộc chiến này là nguyên do cơ bản đưa đến sự phân hóa trong lòng ngươi Việt Nam trong những ngày tháng qua.

Trước hết, nếu xét đến những yếu tố khách quan của lịch sử, thì thật ra cuôc chiến Quốc - Cộng không thể có cơ hội xuất hiện, bởi vì vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng nô nức vùng dậy để đánh đuổi bọn ngoại xâm, và lật đổ nền đô hộ của bọn thực dân Pháp, nên lúc đó có rất nhiều tổ chức, nhiều đảng phái ra đời với mục đích này. Và với dân ta thì rất đơn giản, cứ tổ chức nào chống thực dân Pháp là theo trợ giúp.

Nhưng bất hạnh thay cho dân tộc ta, vì cũng vào thời kỳ dầu sôi lửa bỏng, với cao trào đánh duổi ngoại xâm ra đời, bọn Bônsevic Hồ chí Minh và tập đoàn Việt Minh cộng sản đã lợi dụng lòng cứu quốc của toàn dân, âm thầm thành lập tổ Cộng sản Đông Dương, làm nô lệ cho phong trào cộng sản quôc tế, nhưng nấp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, để lừa dối đông bào và che giấu cái chủ trương độc ác của chúng là:

1.Tập đoàn cộng sản và Hồ chí Minh chủ trương xây dựng một xã hội không đặt trên nền tảng luân lý đạo đức, nhân bản xã hội. Nhung lại trên chủ thuyết tam vô là vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Nghia là chúng chủ trương chối bỏ nền tảng tình nghĩa gia đình. Chối bỏ luân lý tổ quốc và chối bỏ đạo đức của tôn giáo.

2.Tập đoàn cộng sản và Hồ chí Minh chủ trương áp đặt định chế và kiểm soát xã hội bằng một hệ thống bạo lực, độc tài đảng trị, dựa trên khung sườn là các đoàn đảng viên, cán bộ vô văn hóa đã thành thục chủ thuyết tam vô. Để từ đó, chúng triệt để áp dụng sách lược bạo lực chính trị, khủng bố nhân tâm trên cả hai lĩnh vực chính trị và đời sống. rồi áp đặt một chính sách ngu dân, bưng bít mọi thông tin trung thực để đưa cả nước vào vòng nô lệ cho thế giới cộng sản nga tàu.

Với chủ trương nghịch luân thường đạo lý như thế, nên dù chúng có qủy quyệt như một con rắn độc nằm cuộn mình trong đám cỏ mục rình mồi, thì đến khi vào thực tiễn hoạt động, bộ mặt sắt máu và tàn độc của Hồ chí Minh cũng bị lộ diện. Kết qủa, chỉ sau một thời gian ngắn, các đoàn thể và đồng bào Việt Nam đã nhận ra những khuôn mặt gian trá kia, hoàn toàn đi ngược lại với lòng mong mỏi của toàn dân là muốn xây dựng một xã hội Nhân Bản và một thể chế dân chủ dựa trên những định chế xã hội là:

1.Việt Nam sẽ xây dựng và cải tạo xã hội dựa trên nền tảng cơ bản Nhân Vị con người. Tôn trọng và áp dụng thực tế vào xã hội các Hiệp Định, Hiến Chương Quốc Tế về Nhân quyền. Tôn trọng và bảo vệ nền luân lý đạo đức của dân tộc của tôn giáo. Tôn trọng nền luân lý, đạo đức truyền thống trong gia đình và bảo vệ pháp chế về Tổ Quốc.

2.Người Quốc Gia chủ trương xây dựng một chính thể Dân Chủ Đa Nguyên dựa trên nền tảng pháp trị phân quyền. Mở mang văn hoá, nâng cao dân trí, giữ lấy tính chất độc lập của xã hội để bảo vệ nền đôc lập cho tổ quốc và tạo sự thịnh vượng chung cho toàn dân.

Nên cho dù nhìn từ bất cứ một khía cạnh nào đi nữa thì chính vì hai chủ trương hoàn toàn khác biệt và đối chọi nhau này đã phát sinh ra cuộc chiến quốc cộng. Theo đó, cuộc chiến này đã bắt đầu từ 1930 chứ không phải chờ đến sau năm 1954. Vì sau 1954, cuộc đối đầu ấy đã trở thành hai quốc gia với hai nền chính trị khác biệt . Tư đó đời sống của ngưòi dân hai miền đã bị ảnh hưởng trực tiếp bời hai thể chế chính trị và văn hóa khác biệt này. Dĩ nhiên, chẳng một người Việt Nam nào muốn nhìn thấy đất núớc của mình bị chia hai và theo hai thể chế đối đầu nhau. Nhưng trong lúc miền Nam cố gắng làm tất cả mọi việc để ổn định đời sống cho dân và tập xây dựng đời sống theo nếp sống dân chu,û thì Hồ chí Minh, sau khi đã cuồng sát nhân dân miền bắc trong vụ cải cách ruộng đất và nhân văn giai phẩm lại đánh trống khua chiêng đẩy cả nước vào một cuộc chiến tranh mới theo lệnh của cộng sản Nga Tàu. Kết qủa, miền nam đã thua trong cuộc chiến súng đạn vào ngày 30-4-1975. Thế nhưng, cuộc chiến ý thức về Quốc Gia và Cộng sản vẫn chưa hề chấm dứt, nếu như không muốn nói là chính nghĩa thuộc về người Quốc Gia càng lúc càng vững mạnh.

Bởi vì, sau 30-4-1975, Việt cộng với sự trợ giúp của cộng sản Nga Tàu, chúng đã chủ động nắm được chính quyền, nhưng chúng không phải là kẻ chiến thắng. Trái lại, toàn thể dân ta đã nhìn rõ được cái bản mặt gian ác, trơ tráo và nô lệ của từ Hồ chí Minh cho đến tập đoàn Phạm văn Dồng, Lê Duẫn, Trường Chinh đến Mười, Anh, Kiệt, Khải, Mạnh, Tríết ,Trọng, Dũng ngày này. Theo Hồng Hà, đây toàn là những khuôn mặt vô học thức, vô có đức, nhưng có tài sử dụng bạo lực dâm chém trên cả hai phương diện đời sống và chính trị của nhân dân Việt Nam. Như thế, xét cho cùng, chúng chỉ là những kẻ đáp ứng được cái nhu cầu vô luân do cộng sản đề ra mà thành lãnh đạo, rồi từ đó nhờ cộng sản, khống chế toàn xã hội Việt Nam vào vòng nô lệ cho cộng sản, ngoài ra chẳng có một khả năng nào khác.

Chính một ngưòi trẻ, rất trẻ, sinh sau cái ngày 1975 ấy đã có nhận định sắc bén về cái chế độ và những con ngưòi của cái chế độ ấy như sau:

“Họ xuất phát từ một cái văn hoá (tôi muốn nói đây là CSVN) thấp kém, một phương pháp đấu tranh hoàn toàn phi nhân đạo, phi nhân bản, là chuyên chính, bạo lực, vô sản để đàn áp, để trấn áp con người với một mục tiêu hoàn toàn phi đạo lý, vô chính trị và có thể nói là phi pháp nữa.”LTCN”


Cũng thế, cha ông ta ngày xưa đã nhìn ra mặt thật của chúng nên đã dặn bảo cháu con là: Con ơi nhớ lấy lời này: Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Việt cộng ngày nay thủ đắc cả hai món nghề tối độc ấy. Chúng đã làm cướp đêm trong biết bao nhiêu năm trường, Ở ngoài bắc thì từ 1930. 1954 và từ 1930- 75 ở trong nam, và rồi chuyển sang cướp ngày từ 1975 đến nay. Nên tài đức của một anh hoạn heo, của một tên du kích, của một cai phu đồn điền, được đôn lên làm lãnh đạo, nên khả năng chính của chúng chỉ là việc tự do vơ vét tài sản của công và tư. Cứ theo như những nguồn tài liệu từ các ngân hàng, được tăng tải trên báo chí thì những tên đầu nậu tại Hà Nội này, mỗi kẻ đã thủ đắc hàng tỷ đô la trong túi riêng.

Trong khi đó, chúng đánh bóng và khoác vào cổ nhân dân những danh từ hoa mỹ như làm chủ đất nưóc, là mẹ chiến sỹ, mẹ anh hùng. Kết qủa ngày nay đầy tớ thì ngồi trên đống bạc và hành xử quyền bính bất nhân. Trong khi đó, những chủ nhân ông của đất nước thì vác đơn đi kiện để đòi đất đòi nhà trên bình diện cả nước. Tiếc rằng, dân càng kiện, cửa quyền tham ô càng xây dựng thêm thế lực và độc ác.

Trong khi đó ở miền Nam thì bị tiếng là thua trong cuộc chiến súng đạn, nhưng chúng ta lại có những anh hùng, những lương thần, lương tướng vì non sông như Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng. Lê Nguyên Vỹ, Trần văn Hai, Phạm văn Phú, Hồ ngọc Cẩn và ngày nay tiếp nối theo những tầm gương trung liệt ấy của non sống là những Nguyễn văn Lý, Lê thị công Nhân, Nguyễn văn Đài, Nguyễn Phong... tất cả đã và đang vì dân tộc, vì đất nước này mà hy sinh chính phần đời mình cho hạnh phúc của dân tộc.

Đó là một phần lịch sử của dân tộc. Đó là ý nghĩa của một cuộc đấu tranh. Đó là hai hướng đi cơ bản khác biệt của hai thể chế đối nghịch nhau đã tạo nên sự phân hóa trầm trọng cho dân tộc Việt từ năm 1930 đến nay. Khuynh hướng phân hóa này chưa có dấu chỉ ngừng lại. Trái lại, hố ngăn cách mỗi lúc một bị đào sâu thêm.

Khi tôi nói như thế, chắc có bạn sẽ hỏi tôi là: Vậy đường chúng ta đi hôm nay là con đường nào, và ý nghĩa đích thực của cuộc chiến giữa Quốc Gia và Cộng sản sẽ ra sao?

Tôi nghĩ là có hai con đường mà chúng ta phải chon lấy một. Xin nhớ là chọn lấy một thôi. Bởi vì, mỗi con đường đã gói ghém trọn ý nghĩa và hướng đi của nó:

1.Sẽ tiếp tay cho Việt cộng để chà đạp nhân phẩm con người, để bạo hành dân tộc và cưỡng đoạt tất cả những quyền cơ bản của con người mà cha ông chúng ta đã có hơn bốn ngàn năm dày công bảo vệ, và đẩy toàn dân ta thành dân nô lệ cho chủ nghĩa Tàu cộng? Đây là đường vì bạo ác và coi nhân dân như cỏ rác mà Việt cộng đã từng bám trụ trong mấy chục năm qua.

2.Là phải quyết tâm dứng lên tiêu diệt Cộng sản để cùng nhau xây dựng một xã hội dân chủ đa nguyên, một xã hội nhân bản pháp trị dựa trên nền tảng Tự Do trong công lý và đạo đức xã hội, để đem lại thịnh vượng và độc lập cho dân tôc?

Khi đưa ra hai hướng đi này, có thể sẽ có bạn sẽ hỏi tôi là: Tại sao phải chống cộng và chống cộng là chống cái gì? Không thể hoà hợp hoà giải với Việt cộng được hay sao?

Câu trả lời rõ ràng là: sẽ không bao giờ có thể hòa hợp hòa giải được với Việt cộng. Nghĩa là: một, cộng sản phải bị tiêu diệt, bị xóa sổ. Hai, ngưòi Việt sẽ phải lưu vong và bị mất nước. Tại sao vậy? Tôi xin thưa : Có cộng sản là không có tự do.Và chống cộng là tìm phương cách để xóa sổ nhà nước độc tài Cộng sản. Tại sao chúng ta phải làm như thế? Bởi vì chính cộng sản đã minh xác trong Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa là: Nhà Nước được lập nên không phải vì Tự Do. Noí cách khác, Có nhà nước cộng sản thì không có Tự Do, mà có Tự Do thì không có nhà nước cộng sản. và đây chính là sách lược cơ bản của nhà nước Việt cộng (sách ìn tại Hà Nội năm 1980).

Nên hôm nay, nhân ngày kỷ niệm hai năm các nhà tranh đấu trong đó có Linh Mục Lý, Ls Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Nguyễn Phong... bị nhà nước cộng sản giam cầm một cách trái phép, chúng ta cùng nhìn lại xem, sau bao lớp phế hưng của thời đại, sau bao nghiệt ngã tàn phá từ thực dân Tàu đến Tây, nếp hoàng kim của quê hương còn lại những gì?

Tôi không thấy nhiều tương lại, trái lại tôi thấy chỉ còn trơ lại trên quê hương yêu dấu ấy đôi gọng xe gẫy đổ hoang phế. Tệ hơn thế, cuộc xâm thực của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà Hồ chí Minh và Việt cộng là nấm ký sinh, đã đục khóet đến tận xương tủy cơ chế nhân bản của dân tộc, để ngày nay trơ lại trên giang sơn ấy, là một mớ hỗn độn của diện văn hóa vô văn hoá, trong một thể chế bất lương, vô đạo nghĩa.

Riêng phúc sinh của con dân và xã hội thì thoi thóp trong cảnh dân oan gặp bất công trên bình diện cả nước. Phần nhân phẩm nhân quyền của con người thì bị chà đạp, và hơi thở Tự Do thì không thấy. Chỉ thấy cả một xã hội thuần lương Việt Nam, được Cộng sản xây dựng trên căn bản đổ đốn của một loại văn hóa vô luân, bất nhân bất nghĩa. Kết qủa, sau hơn năm mươi năm làm lãnh đạo, khắp nước không thể tìm ra được một cán bộ của nhà cầm quyền còn tính người. Kẻ lãnh đạo chóp bu thì ra ngoại quốc mời mọc khách bằng một câu vô phẩm cách giống như một tên ma cô dắt mối khi nói: “Vào đi các ông, ở Việt Nam có nhiều gái!” Kẻ có trách nhiệm về hành sử công lý thì bịt miệng người ngay trước nơi mà chúng gọi là tòa án, công đường và chúng hãnh diện là đã tạo nên một bức hình tủi nhục nhất trong lịch sử của loài người. Nhìn cảnh ấy, thật là thấy tủi hổ cho nòi giống Việt Nam ta.

Với muôn điều tệ hại như thế, nấm ký sinh Hồ Chí Minh có thể chui rúc nằm vùng trong quần chúng để tiếp tục làm băng hoại thêm xã hôi nhân bản của Việt Nam nữa hay không?

- Không, dĩ nhiên là không.

Tất cả những gìa cỗi, đảo điên, vô văn hóa của kẻ bội phản dân tộc phải bị triệt hạ. Những đổ đốn như cỏ mục ấy không thể tạo sinh khí cho thời đại của Dân Chủ, của Tự Do, của Nhân Bản. Nói cách khác, nền văn hóa Nhân Bản của dân tộc sẽ mãi trường tồn và Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín là chủ nguyên của nòi giống Việt sẽ còn mãi mãi tồn sinh với dân tộc ta.

Đó là lời khẳng định. Đó là lẽ tồn sinh của dân Viêt. Bởi vì từ trong cuộc tồn sinh ấy, thế giới ngày nay đã có dịp nghe đến một âm thanh tuy nhỏ nhẹ, nhưng sức mạnh tưởng chừng như có thể làm vỡ toang bầu khí quyển của trái đất:

“Bằng tất cả lương tâm và trách nhiệm của mình với đất nước và dân tộc Việt Nam, tôi sẽ chiến đấu tới cùng, cho dù chỉ còn có một mình tôi trong cuộc tranh đấu cho Nhân Quyền, Tự Do và Dân Chủ cho Việt Nam.

“Tôi không thách thức, nhưng nếu CSVN đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn dìm, dập nước Việt Nam vào tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về kinh tế và lạc hậu về văn hóa và còn kéo dài cho mãi đến đời con cháu thì tùy họ cứ hành xử những gì họ có
“Cộng sản đừng có mong chờ bất cứ một điều gi dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi”(LTCN).


Ai có thể tưởng tượng ra được những lời công bố ấy lại phát xuất từ một người thiều nữ mới vừa 27 tuổi? Ai có thể tưởng tượng ra được một lòng dũng cảm vô biên của một người thiếu nữ mới ngoài đôi mươi đã không những dám đương đầu với bạo lực, hơn thế, còn dạy giỗ cho bọn cường đồ cộng sản Hồ chí Minh những bài học căn bản làm ngườøi? Và ai có thể tưởng tượng ra được ngừơi thiếu nữ đôi mươi ấy đã không những làm sống lại, nhưng còn mở ra một con đuờng đạo lý trong nhân bản vị cho xã hội ngày mai hướng tới. Và nay thì không một ai có thể chối bỏ được âm thanh nhỏ nhẹ của ngưòi thiếu nữ đôi mươi kia đã đi một bước dài vào tiến trình của chinh phục. Những lời lẽ ấy không những chỉ chiếm trọn tất cả tim lòng con dân Việt Nam mà còn làm cho cả thế giới loài người phải ngưỡng phục về lòng qủa cảm và tâm hồn bao dung Nhân ái. Theo đó, chỉ có kẻ vô tri vô giác và lớp ký sinh của tập đoàn Hồ chí Minh, cộng sản, mới chối bỏ cái cội nguồn như chân lý trong lời lẽ của Lê thị Công Nhân mà thôi.

Như thế là lửa thiêng của giòng Lạc Hồng đã bừng lên từ trong bóng đêm. Lửa đã bùng cháy lên để dẫn đường cho con dân Việt tẩy trừ đi những hỗn độn từ vô pháp vô cương. Lửa với nhân tâm sẽ tái lập lại nền công lý trong Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín. Lửa sẽ tái lập lại một nền luân lý, đạo nghĩa cho xã hội mà ký sinh cộng sản đã thi nhau rúc rỉa, làm băng hoại từ hơn nửa thế kỷ qua. Rồi lửa nhân ái sẽ đưa dân Việt hội nhập vào cộng đồng nhân bản của nhân loại bằng tự tin và bình đẳng.

Nhưng,

Đuốc thiêng đã cháy sáng, nhưng quốc nạn chưa qua và Lê thị Công Nhân và các nhà tranh đấu thì đang bị Việt cộng giam giữ trái phép. Ai sẽ thay thế những Nguyễn văn Lý, Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài truyền ngọn lửa thiêng đến từng nhà, từng người?

Hẳn nhiên những gìa cỗi, gìa cỗi từ tâm trí đến say mộng quyền lực không thể làm được công tác này. Hẳn nhiên, những thù hận không bao dung, những bè phái u mê không có lòng nhân ái vì dân tộc không thể tiếp sáng được ngọn lửa từ Lê Thị Công Nhân. Và hẳn nhiên, những con hề kịch cỡm không thể là những đồng bóng để làm tàn lụi ngọn lửa thiêng của dân tộc.

Như thế, Người có nhiệm vụ đưa lửa thiêng đi khắp nơi khắp nhà là chính chúng ta, là những người còn tình nghĩa với Quốc Gia, là qúy bạn trẻ mà không phải là ai khác, càng càng không phải là thằng tầu ông tây nào đó!

Vâng, LTCN đã nói thật với chúng ta rằng: “mỗi người một bàn tay, mà bàn tay của tôi còn nhỏ hơn bàn tay của quý vị. Chúng ta hãy góp phần một cách mạnh mẽ kịp thời, hầu mong cho công cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ đi đến thắng lợi một cách sớm hơn.”

Rồi khi nói đến thực tiễn, ý nghĩa của của cuộc tranh đấu, Ls Công Nhân đã khóc và van nài đồng bào Việt Nam ở Hải Ngoại rằng:

“Hởi đồng bào hải ngoại, xin ngưng về Việt Nam, nếu thấy không cần thiết- Xin ngưng gởi tiền về Việt Nam, nếu thấy không cần thiết.

Tôi tin rằng, đó là một hy sinh, một biểu lộ tích cực của cuộc tranh đấu. Chúng ta có đáp lời hay không nào? Các bạn tự trả lời đi.

Để kết cho bài nói về ý nghĩa của một cuộc chiến, tôi xin thưa thế này: Ngươi ta học lịch sử để làm lịch sừ. Tôi hy vọng các bạn trẻ Việt Nam hôm nay, hãy đọc kỹ lịch sử của đất nước, nhất là lịch sử cận đại. Để từ đó các bạn sẽ tìm ra được một câu trả lời chính xác cho hướng đi của mình là: Ai đã vì dân vì nước? Ai là kẻ đi xin làm nô lệ và đẩy cả nươc vào vòng nô lệ, để hôm nay, ngoài khơi thì mất Hoàng Sa ,Trường Sa. Đất liền thì mất Nam Quan, Bản Dốc và cà ngàn dặm biển khơi thuộc vịnh bắc Việt. Tồi tệ hơn nữa, tiếng là ngày nay Việt cộng cho Trung Quốc vào khai thác mỏ bốc- xít tại cao nguyên Trung Phần, nhưng thực chất là chúng sẽ nhượng cho Trung cộng một vùng đất rộng lớn ở trên cao nguyên Việt Nam. Khu đất này, sẽ nằm trong vòng kiểm soát của bọn Trung cộng. Chúng sẽ đặt những cơ sở quân sự chiến lược, chúng có luật lệ riêng trong khu vực để đưa ngưòi sang định cư, sinh sống và khai thác mỏ mà các quan cán Việt cộng không được phép kiểm tra. Dĩ nhiên, các công nhân Tàu sang sinh sống và khai thác quặng mỏ không cần giấy nhập cảnh của Việt Nam. Tệ hơn thế, nhà cầm quyền Việt cộng không có quyền quy định về thời hạn những chú.. khách này sẽ được lưu lại trên đất Việt là bao lâu. Nói cách khác, từ số lượng người đến khai thác, kẻ ở lại thành di dân hợp pháp hoặc là ngưòi thay thế đều thuộc phiá tàu cộng quyết định và quan cán thái thú Việt cộng không đươc phép biết đến việc điều hành này.

Chúng ta thấy gì?

Thật ra, tất cả những chuyện liên quan đến việc khai thác mỏ bốc-xít ấy chỉ là cái bề mặt mà Tàu cộng và Việt cộng móc ngoặc với nhau. Nhưng điểm nhấn quan trọng nhất mà mọi ngưòi Việt Nam phải nên biết là: Việt Nam sẽ bị mật cao nguyên do việc Tàu cộng đến khai thác và sinh sống trên phần đất đó. Chúng đã sang đến khu đất màu mỡ ấy thì không khi nào trở về nữa.

Từ đây, chúng sẽ mở một hành làng qua ngà Ai Lao chuyển người đến, chở vật đi thì mảnh đất ấy sẽ đi về đâu? Kế đến, chúng lại xẻ núi băng rừng để làm đường ra biển với lý do là chuyên chở vật phẩm, rồi vì an ninh lộ trình chúng phải đưa người đến bảo vệ con đường này thì Cao Nguyên nói riêng và Việt Nam sẽ ra sao? Người Việt Nam mỗi khi đi ngang qua con đường ấy có phải trình giấy phép cho an ninh lộ trình của Tàu cộng hay không? Rồi trường hợp, kể cả quân cán Việt cộng, nếu có công việc gì phải đi ngang qua vùng bị chiếm đóng ấy, có phải làm đơn xin phép Tàu cộng hay không?

Khi những chuyện này xảy ra, tương lai của Việt Nam noí chung và mảnh đất cao nguyên trung phần sẽ đi về đâu? Có lẽ câu trả lời thẳng thắn sẽ là đất ấy dần dần sẽ không còn nằm trong vòng tay kiểm soát của Việt cộng. Bởi vì từ những cái tên như Minh, Đồng, Mười, Anh , Cầm, Kiệt, Khải và nay là Dũng, Triết, Mạnh, Trọng... chẳng qua chỉ là những tên thái thú của Tàu cộng được sinh ra ở trên đất Việt mà thôi. Bởi lẽ, bản chất của thái thú là phải đàn áp dân bản xứ để phục vụ cho mẫu quốc. Hiện tượng thái thú này đã hiện rõ ngay sau những ngày tháng Việt Cộng cướp đươc chính quyền từ 1954 đến nay. Chúng coi nhân dân như cỏ rác, tự do bắt bớ, bạo hành nhân dân. Tệ hại hơn, tự do chà đạp nhân phẩm con người. Tự do hành lạc trên cuộc sống lầm than của nhân nhân. Nếu chúng coi nhân dân như cỏ rác, tai sao chúng ta phải tôn trọng chúng?

Hỡi các bạn trẻ Việt Nam, nếu cộng sản đã chả đạp nhân tâm, đã bạo hành công lý và khi chúng đã coi toàn dân như cỏ rác, thì theo lời ngừơi xưa, trong sách cổ học xưa có viết rằng: “Nếu vua quan coi thần dân, bề tôi như cỏ rác, thì nhân dân và bề tôi cũng coi vua quan như đồ chó lợn”. Các bạn là nhưng người trẻ, trí thức, có lòng yêu nước, thương dân, là tương lai của dân tộc, muốn xây dựng lại một đất nưóc trong Tự Do, Độc Lập. Công Lý và tôn trọng Nhân Quyền, thì tại sao lại đi phục vụ hay tiếp tay cho bầy chó lợn của Tàu cộng để chúng đàn áp đồng bào mình?

Các bạn thân mến, Các bạn hãy đọc lại lịch sử và tự trả lời đi.

Bảo Giang

Copyright © 2008 - All rights reserved.