bao the gioi


VÀI HỒI ỨC VỀ KỊCH NGHỆ VIỆT NAM – Kỳ 6
Phạm Phong Dinh

Nghệ sĩ Xuân Phát là diễn viên hài rất ít xử dụng ngoại hình nhất. Ông diễn xuất bằng những câu bỏ nhỏ bất ngờ, tưởng vậy mà không phải vậy. Còn nhớ khi nghệ sĩ mới chân ướt chân ráo sang định cư tại Hoa Kỳ và được Ban Kịch Sống Túy Hồng mời cộng tác trong một vở hài kịch, Xuân Phát thủ diễn vai một người Việt Nam chưa nhá nổi nếp sống tương phản Mỹ. Ông chơi luôn bộ pyjama mới ngủ dậy còn bèo nhèo, tà tà chắp tay sau đít dạo mát trên hè phố. Xuân Phát là một trong số những nghệ sĩ hài hước có khả năng kiêm luôn nhạc sĩ và soạn giả trong cả hai lãnh vực tân và cổ nhạc.

Khoảng đầu thập niên 1970 ông nổi tiếng với những vở tuồng ca nhạc cải lương hài hước được thâu vào dĩa nhựa và rất được tán thưởng như Ðắt Kỷ Ho Gà, Tình Chú Thoòng. Vở Ðắt Kỷ Ho Gà hồi đầu năm 2000 đã được ông bầu Vân Sơn dựng lại trong Chương Trình Vân Sơn 16, sau khi đã được soạn giả Xuân Phát sửa chữa lại một vài chi tiết và lời đối thoại, đã được tán thưởng nhiệt liệt. Trong vở Tình Chú Thoòng có một câu nói bất hủ của chú (do Hùng Cường thủ diễn) mà đã trở thành một thành ngữ thông dụng: “Chắc tui chết trước giờ xổ số”, ngụ ý than vãn về một công việc dang dở không thể hoàn thành, dẫu có chết cũng không nhắm mắt.

Khuynh hướng cho nhân vật đối đáp nhau bằng những câu thòng phản hồi đang thịnh hành trong các vở hài kịch hải ngoại hiện nay. Một người nói ra, người khác đốp chát lại. Soạn giả lừng danh Ngô Tấn Triển là một trong những vị sở trường nhất về thể loại đối đáp này trong những màn tấu hài hay những câu chuyện vui ngắn. Những vở kịch của Nhóm Kịch Hài Thúy Nga, Quang Minh-Hồng Ðào của Trung Tâm Vân Sơn cũng phát triển theo chiều hướng ấy.

Vào năm 1971 trở đi, cường độ chiến tranh Việt Nam lên đến đỉnh cao nhất, trên khắp chiến trường đã nổ ra những trận đánh lớn như Hạ Lào Lam Sơn 719, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và những trận đánh sau ngày ký hiệp định Paris 1973. Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và Cục Tâm Lý Chiến làm việc cật lực để mang hình ảnh hào hùng và khổ ải triền miên của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa về hậu phương, vận động đồng bào hưởng ứng các phong trào yểm trợ tinh thần chiến sĩ như Quỹ Cây Mùa Xuân Cho Chiến Sĩ, gửi các Toán Tâm Lý Chiến ra tiền tuyến ca hát giúp vui, thành lập Ðoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương quy tụ hầu hết các tài danh ca nhạc, cải lương, kịch nghệ, ảo thuật, vũ,... đi trình diễn khắp bốn quân khu. Ðóng góp vào cuộc chiến đấu chung bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa và nâng cao hùng khí chiến đấu của quân dân, đã xuất hiện nhiều chương trình văn nghệ trên Ðài Truyền Hình Sài Gòn 9. Ðể đẩy mạnh tác dụng tâm lý chiến, tránh cho những người lính tiền tuyến và cả quần chúng ở hậu phương khó chịu vì những cái tên ngoại quốc của những ca sĩ thuộc trường phái nhạc trẻ, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã đề nghị những nghệ sĩ này lấy một cái tên Việt Nam thuần túy. Thí dụ, Elvis Phương đã tự nguyện cải tên thành Vân Phương.

Nổi bật nhất phải kể đến hai chương trình Trường Sơn của Duy Khánh và Tiếng Hát Ðôi Mươi của Nhật Trường. Cả hai chương trình này giới thiệu những nhạc phẩm hay nhất của những nhạc sĩ thời danh viết cho lính, tình yêu của lính và cho những người yêu lính. Duy Khánh và Nhật Trường đã dàn dựng những nhạc cảnh trữ tình, những bi thương chia lìa lồng trong bối cảnh kinh khiếp của chiến tranh.
Chương trình Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến trong năm 1998 của Trung Tâm Asia đã làm sống lại một phần những nhạc cảnh mà tưởng đã ngậm ngùi chìm trong đống tro tàn của quên lãng.

Mùa hè năm 2000, một lần nữa Trung Tâm Asia đã gửi đến khán giả và những người lính Việt Nam Cộng Hòa một tuyệt phẩm tôn vinh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chương trình Chiến Tranh Và Hòa Bình, rồi tiếp theo sau là chương trình Người Lính. Ðể diễn tả trung thực hình ảnh người lính thân yêu của chúng ta, nhạc sĩ Trúc Hồ đã mời một số nhà văn quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng viết script giới thiệu và viết thêm phần nhạc cảnh cho chương trình, Việt Dzũng và Orchid Lâm Quỳnh phụ trách phần diễn giải. Khi thực hiện chương trình tưởng niệm và vinh danh Nhật Trường Trần Thiện Thanh năm 2006, đến chương trình Lá Thư Ngoài Chiến Trường trong mùa hè 2008 vừa qua, có thêm sự hiện diện của Nam Lộc, Dương Nguyệt Ánh và Thùy Dương.

Chương trình ca nhạc Trường Sơn của Duy Khánh được phát sóng hàng tuần trên Ðài Quân Ðội vào trưa ngày Thứ Bảy và thường xuyên được phát hình từ Ðài Truyền Hình Sài Gòn Băng Tần 9, rất được quần chúng và chiến sĩ bốn vùng chiến thuật theo dõi thưởng thức. Ca khúc Ði Từ Ðồng Ruộng Bao La được dùng làm nhạc hiệu cho chương trình Trường Sơn là một bản nhạc nửa hùng nửa tình tự dân tộc do chính Duy Khánh sáng tác tuyệt hay, với những câu mở đầu như sau: “Từ Cà Mau ruộng đồng bao la, Năm Căn heo hút muỗi sa từng bầy. Chiều hành quân đi qua rừng chiến khu D, đến mùa Ðồng Tháp đĩa đeo tràn trề...”.

Từ chương trình này, một thế hệ ca sĩ tài năng được Duy Khánh đào tạo đã được công chúng và các anh chiến sĩ đón nhận nồng hậu, với Băng Châu, Từ Quân, hợp cùng những nghệ sĩ đã thành danh như Giang Tử, Phương Ðại, Thanh Phong, Thái Châu, Phương Hồng Quế, Thanh Tuyền. Băng Châu, người ca sĩ trình bày rất thành công những tác phẩm của thầy Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Việt Thu. Khán giả không thể nào quên những giai điệu quê hương được diễn tả qua giọng hát trong trẻo mà thê thiết, hơi rung rung như những sợi đây dàn ngân nga của Băng Châu từ những Qua Cơn Mê, Nhớ Nhau Hoài, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê.

Từ Quân, một nam ca sĩ xuất sắc nhất từ lò Duy Khánh, được thầy giao cho những tác phẫm trữ tình về lính của tác giả Phượng Vũ, Ngân Khánh (Nhật Ngân và Duy Khánh), như Chiếc Khăn Màu Tím, Cảm Ơn, Thư Xuân Trên Miền Cao, hay Sương Trắng Miền Quê Ngoại của tác giả khác. Những bài hát khi được trình bày trước máy thu hình của Băng Tần 9, đều được Duy Khánh dàn dựng rất công phu, với phần hậu cảnh đậm đà màu sắc quê hương và chiến trường. Có thể nói rằng hai chương trình Trường Sơn Duy Khánh và Tiếng Hát Ðôi Mươi Nhật Trường đã đem hình ảnh người lính QLVNCH về hậu phương, để đồng bào có thể cảm nhận sâu sắc nỗi gian khổ tột cùng và sự hy sinh cao cả của các anh để bảo vệ đồng bào và đất nước, cũng như đem hình ảnh hậu phương ra ngoài tiền tuyến để những người lính của chúng ta được có vài khoảnh khắc nhìn lại những gì thật thân thiết mà các anh đã đang thật cách xa. Chiến tranh càng nặng độ thì những ngày phép của những người lính thật quá tội nghiệp ấy đã trở thành một giấc mơ, hay là những ân huệ xa xỉ, chứ không phải là một quyền lợi được hiến pháp quy định nữa. Những người lính trận có khi hai, ba năm, chưa được trông thấy tờ giấy phép dài ngắn như thế nào. Những tờ giấy phép của các anh thường được đổi bằng mồ hôi và nước mắt. Bắn cháy một chiến xa giặc, tiêu diệt một ổ chốt địch bằng những trái lựu đạn cận chiến, hay xung phong ồ ạt lên tái chiếm một cao điểm, đều phải trả giá bằng máu.

Nhật Trường phụ trách chương trình ca nhạc Tiếng Hát Ðôi Mươi trên cả hai làn sóng Ðài Sài Gòn và Ðài Tiếng Nói Quân Ðội. Ông thường ký tên Trần Thiện Thanh, Anh Chương hay Trần Thiện Thanh Toàn cho những tác phẩm của ông. Báo chí thời ấy đã tặng một biệt danh rất đẹp cho Nhật Trường từ giọng ca ấm áp mượt mà của ông là Giọng Vàng Bao Dung. Thật thế, nghe Nhật Trường hát, khán giả có một cảm giác ấm cúng, được bảo bọc từ những rung động chân thành mà Nhật Trường đã diễn tả bằng chính con tim của mình. Nếu ngày nay có nhiều ca sĩ phản bội với chính giọng hát của mình để trở thành những con vẹt, những cái máy hát vô hồn, thì Nhật Trường là một trong số ca sĩ chân chính luôn gởi đến chúng ta bằng tất cả tấm lòng của ông dành cho quê hương, dân tộc, và trên hết là Những Người Lính ở ngoài chiến trường. Trước khi ông lìa khỏi cõi thế gian đầy nhiễu nhương này, Trần Thiện Thanh còn biên soạn một liên khúc tổng hợp ngợi ca hầu như tất cả quân binh chủng QLVNCH. Nếu Phạm Duy luôn có cái nhìn về cuộc chiến tranh Việt Nam dưới lăng kính ảm đạm và bi thảm, thì Nhật Trường nhìn thấy ở đó bóng dáng những anh hùng hào kiệt, thà chịu phơi thân ngoài chiến trường, hay đành poncho bọc thây, hùng dũng như những cội thông, tùng kiên cường trước mọi cơn giông bão.

Nhật Trường không bao giờ nói nghệ sĩ không làm chính trị như một số nghệ sĩ khác để tránh né trách nhiệm, mà ông luôn dấn thân vào những hoạt động chính trị chống cộng, được thể hiện qua nội dung mạnh mẽ của những bài hát nói về Lính. Nhật Trường đã đem cái khốc liệt của chiến tranh, những sự hy sinh hào hùng, những cái chết bi tráng của Người Lính VNCH về thành phố, từ đó người hậu phương cảm nhận được những hy sinh cao cả của các anh. Những phong trào Hậu Phương Yểm Trợ Tiền Tuyến được Tổng Cục Chiến Tranh Chiến Trị đẩy mạnh cũng từ đấy, với sự hưởng ứng nồng nhiệt của mọi tầng lớp đồng bào. Nhiều nghị sĩ, dân biểu, thương gia, công ty, trường học, đảng phái chính trị, mọi tôn giáo đã ghi danh xin được đỡ đầu cho một đơn vị nào đó của Quân Ðội, thường xuyên tổ chức những phái đoàn đem phẩm vật đến trao tặng chiến sĩ tiền tuyến, hợp cùng với những toán văn nghệ Tâm Lý Chiến đem tiếng hát hậu phương đến sưởi ấm lòng các anh. Có thể Nhật Trường không nghĩ rằng tác động của những bài hát ngợi ca lính của ông có một tầm ảnh hưởng rộng lớn đến như thế. Nhưng thực sự rằng, nếu không có những bài hát đậm đà chất hào hùng của một quân đội dũng mãnh, phơi gan trải mật chiến đấu dưới Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ Ðại Nghĩa của ông, như là một chất xúc tác làm dậy lên hùng khí chiến đấu lên đến mức cao nhất, thì hẳn rằng những sự hy sinh nhiệm mầu ấy đã không được hậu phương biết nhiều đến.
Ðóng góp vào thành công của chương trình Tiếng Hát Ðôi Mươi có sự tham gia của các tài danh Thái Thanh, Mai Hương, Quỳnh Giao, Hoàng Oanh, Thanh Mai, Khánh Ly, Như Thủy, Kim Dung, Phương Ðại, Thanh Vũ. Nhật Trường từng được yêu mến khi ông hát song ca với Thanh Vũ, rồi ông thành lập thêm nhóm Tứ Ca Nhật Trường với chính ông, Phương Ðại, Mai Hương và Như Thủy (em gái của Nhật Trường). Vẫn chưa dừng ở đó, sau khi Thanh Vũ tách ra khỏi nhóm, Nhật Trường tìm thấy ở Thanh Lan một giọng hát thật thích hợp cho những bài hát cần song ca của ông. Từ đấy khi nói đến Nhật Trường, khán thính giả liên tưởng ngay đến Thanh Lan.

Ngoài chương trình ca nhạc, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường, còn có một đóng góp quan trọng cho nền kịch nghệ Việt Nam thời chiến, khi ông giới thiệu một hình thái kịch nghệ rất đặc sắc mà ông gọi là phim kịch. Loại phim kịch là dạng thoại kịch dàn dựng trong phòng thu hình, nhưng có lồng thêm nhiều đoạn diễn ngoài ngoại cảnh. Diễn viên ngoài phần diễn xuất còn có những đoạn trình bày những bài hát hay nhất, vì vậy các diễn viên chính thường là các nam nữ ca sĩ tài danh. Hai bộ phim kịch do Nhật Trường viết truyện phim và đạo diễn, mà đã có đóng góp rất lớn vào công tác chiến tranh chính trị là Trên Ðỉnh Mùa Ðông, câu chuyện tình giữa người lính Nhảy Dù và cô sinh viên Sài Gòn; Người Chết Trở Về, câu chuyện tình giữa người lính Biệt Ðộng Quân và cô em gái Ðà Lạt. Trong cả hai cuốn phim kịch này, hai vai chánh đều do Nhật Trường và Thanh Lan ca diễn, với sự có mặt của các nữ ca sĩ Ngọc Minh, Kim Vui, Kim Tuyến, phần hòa âm do nhạc sĩ Y Vân, Trần Thiện Thanh phụ trách. Bộ phim kịch thứ ba, Biển Mù Sương, dàn dựng trong năm 1975, có lẽ viết cho những người lính Cọp Biển Thủy Quân Lục Chiến, nhưng không kịp trình diễn.

Chính từ Nhật Trường, mà người dân thành phố biết được những địa danh thật quá lạ và quá xa, những tên người chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc như Nguyễn Ðình Bảo, Nguyễn Văn Ðương của Nhảy Dù, Vũ Mạnh Hùng của Thủy Quân Lục Chiến, Trần Văn Phước của Biệt Ðộng Quân, Nguyễn Ngọc Bích của Thiết Giáp, Chị Ba Hàng Xanh, em bé Tạ Thái Mạnh trong chiến cuộc Mậu Thân 1968.

Từ hai vở phim kịch Trên Ðỉnh Mùa Ðông và Người Chết Trở Về, thính giả yêu nhạc Trần Thiện Thanh đã thật quen thuộc với những bài hát bất hủ Anh Không Chết Ðâu Anh, Trên Ðỉnh Mùa Ðông, Người Chết Trở Về, Tình Thiên Thu Nguyễn Thị Mộng Thường và Tình Ðầu Tình Cuối. Trong vở Trên Ðỉnh Mùa Ðông, Nhật Trường kiêm nhiệm nhiều vai trò, ông viết truyện phim, làm đạo diễn, đóng vai chính và giới thiệu những bài hát mới nhất của Trần Thiện Thanh và Trần Thiện Thanh Toàn (người em trai đang là một sĩ quan tác chiến của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh). Cuốn phim kịch thuật lại câu chuyện tình lãng mạn nhưng đẫm đầy nước mắt của Ðại Úy Nhảy Dù Nguyễn Văn Ðương với cô sinh viên văn khoa Nguyễn Thị Lan. Trong một chuyến về phép ở Sài Gòn, Ðại Úy Ðương (Nhật Trường) cùng người sĩ quan Dù bạn (Phương Ðại) cỡi Honda lỡ va phải cô sinh viên Lan (Thanh Lan) đang lơ đễnh băng qua con dường Duy Tân trước cổng Ðại Học Văn Khoa. Mối tình anh tiền tuyến em hậu phương nảy nở từ cuộc tao ngộ ngộ nghĩnh đó, để được kết thúc trong một căn nhà nhỏ nhưng ấm cúng và tràn ngập hạnh phúc, với một mầm sống đã tượng hình từ sự kết nối của hai trái tim yêu. Dẫu cha mẹ nàng kịch liệt phản đối, vì lo sợ Lan sẽ sớm trở thành một người góa phụ trẻ, nhưng nàng vẫn cương quyết chấp nhận hết mọi điều ghê gớm đó để sống trọn vẹn cho tình yêu.

Sự lo sợ của cha mẹ Lan có cái lý do chính đáng của nó và đã không mấy chốc mà đã trở thành sự thật. Cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719 năm 1971 đã lấy mất đi của Lan một người chồng, và đứa con trai nhỏ của hai người một người cha. Giặc tràn ngập Căn Cứ Hỏa Lực 31, Ðại Úy Ðương thà chết không chịu đầu hàng, viên đạn cuối cùng trong khẩu Colt 45 không phải để bắn vào giặc mà là tự kết thúc cuộc đời của một con đại bàng từng ngang dọc trên bốn vùng chiến thuật. Một người lính truyền tin thân cận chứng kiến giây phút bi tráng đó đã vượt thoát trở về hậu phương, để từ đó cái tên Nguyễn Văn Ðương quen thuộc với người dân Sài Gòn, và là nỗi cảm xúc để Trần Thiện Thanh sáng tác Anh Không Chết Ðâu Anh. Trong phim kịch, Nhật Trường và Thanh Lan đã thể hiện bài hát này qua bối cảnh hồn ma của Ðương hiện về tái ngộ cùng vợ con, trước khi chàng đi vào cõi vĩnh hằng. Ðây có lẽ là nhạc cảnh hay nhất trong toàn bộ cuốn phim kịch Trên Ðỉnh Mùa Ðông, nó phản ảnh một sự thực não lòng hằng hiện hữu trong lòng mỗi người vợ lính ở hậu phương. Khi cơn ác mộng đến, người tình, người chồng hiện về với một thân thể máu me, thì chắc chắn đó là hiện tượng báo mộng về cái chết thật của người chiến sĩ. Khi Lan thức dậy sau cơn mộng dữ, thì trời ơi, hai sĩ quan Nhảy Dù gõ cửa báo tin nàng đã trở thành góa phụ. Lan thất thểu, đau đớn dẫn con mà nàng cho nó mặc bộ quân phục Dù đi lang thang trên những con đường đầy ắp những kỷ niệm in dấu chân của Ðương và nàng. Sự chia lìa đó tuy bi thương đã đành, nhưng nó có một tác động tâm lý mạnh mẽ vào từng sự quyết tâm cầm chắc cây súng M16 trong tay của mỗi người lính ngoài mặt trận. Bởi nếu không muốn những chia cách, những vành khăn tang đó tái diễn, thì người lính QLVNCH không còn con đường nào khác ngoài việc chiến đấu tận diệt cộng sản đến tên cuối cùng. Cộng sản chết thì tai ương cũng lụi tàn.

Trong bộ phim kịch Người Chết Trở Về trình chiếu năm 1973, Nhật Trường đã dựa vào những cái chết có thật trên con đường máu 13 đi An Lộc để dàn dựng một câu chuyện tình giữa chàng Thiếu Úy Phạm Thái (Nhật Trường) vừa tốt nghiệp Võ Bị Ðà Lạt với cô tiếp viên hàng không Việt Nam Nguyễn Thị Mộng Thường (Thanh Lan) trên chuyến máy bay dân sự đưa chàng về phép ở Sài Gòn. Tương tự như chuyện tình Ðương-Lan, Mộng Thường chấp nhận một cuộc sống mong manh trong nỗi lo sợ thường hằng về một cái chết của người hôn phu ở chiến trường An Lộc dưới sắc áo Biệt Ðộng Quân, mà bài hát Góa Phụ Ngây Thơ của Trần Thiện Thanh đã diễn tả tâm trạng đó.

Chiến trường sắp nổ bùng lên với tất cả sự kinh khiếp nhất mà người ta có thể tượng được. Ðơn vị của Thiếu Úy Thái được dịp tiếp đón một phái đoàn hậu phương, trong đó có một nữ ký giả xinh xắn (Kim Tuyến), mà dường như nàng rất có nhiều cảm tình với chàng lính trẻ. Nhưng con tim Thái đã trót mang hình ảnh của Mộng Thường mất rồi, với chiếc nhẫn đính hôn trên ngón tay của chàng. Kim Tuyến, một cô đào cải lương cùng thời với những tài danh Bạch Tuyết, Phượng Liên, Hùng Cường, Thanh Sang, từng được đoàn cải lương Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân tín nhiệm trong những vai chánh thay thế cho Bạch Tuyết đã rời khỏi để lập gánh hát Bạch Tuyết-Hùng Cường. Gánh Bạch-Hùng này chỉ sống được một thời gian ngắn rồi rã đám, Hùng Cường, Bạch Tuyết lại trở về với Dạ Lý Hương. Kim Tuyến là một trong vài nữ nghệ sĩ cổ nhạc bước sang lãnh vực tân nhạc thành công như Hương Lan, Phượng Mai, và cả lãnh vực kịch nghệ, điện ảnh bên cạnh những ngôi sao sáng nhất thời đó. Nữ ca sĩ Hoàng Lan, từng hát cho nhiều chương trình Thúy Nga, Tình Ca, Ca Dao, Chung Tử Lưu, chính là con gái của nghệ sĩ Kim Tuyến. Kim Tuyến đã dành cho con gái quyền chọn lựa nghề nghiệp, nhưng bà không khuyến khích Hoàng Lan đi vào nghiệp ca diễn như mình.

Nhật Trường đã sử dụng bài hát Người Chết Trở Về để diễn tả cuộc tương phùng đầy nước mắt của Phạm Thái-Mộng Thường. Có điều là, nội dung bài hát không giống với cuộc trở về đau thương trong hình ảnh ma quái của Nguyễn Văn Ðương, mà Phạm Thái trở về với Mộng Thường trong một hình hài nguyên vẹn, đẹp đẽ và sống thực, sau khi nàng nhận được tin chàng đã mất tích trong cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa ở Bình Long. Một câu hát trong bài Tình Thiên Thu: “Nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người gái nhỏ phương xa” gói ghém nội dung của vở phim kịch mà Nhật Trường muốn gởi đến khán giả. Ðó là sự chết hiện diện cùng khắp, dù ở mặt trận hay trong thành phố. Sau chiến trận mùa hè, Thái cùng các chiến hữu ờ An Lộc anh dũng được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đặc cách vinh thăng lên một cấp. Người Trung Úy trẻ vui mừng báo tin cho người yêu được rõ, đồng thời ngỏ lời mời nàng lên An Lộc dự lễ khao lon. Ðây chính là lỗi lầm lớn nhất trong đời của Thái, mà chàng sẽ không bao giờ còn có thể tha thứ cho chính mình được nữa.

Chuyến xe đò định mệnh chở Lan cùng nhiều hành khách lên An Lộc chia sẽ niềm vui chiến thắng, đã nổ tung lên thành trăm ngàn mảnh vụn từ một trái mìn oan nghiệt của giặc. Xác thân của Mộng Thường cũng nát tan theo cùng. Câu kết hay nhất mà Nhật Trường có thể nghĩ ra được để chấm dứt ca khúc Tình Thiên Thu, mà cũng là cái kết cục đem đến người xem nỗi bồi hồi quặn thắt nhất: “Chàng thề không còn yêu ai, dẫu cho ngày tháng phôi phai. Nhiều lần chàng mộng liêu trai, nàng hẹn chàng kiếp mai”.

(còn tiếp)

Phạm Phong Dinh

Copyright © 2008 - All rights reserved.