bao the gioi


VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI 1979- 2009
Sơn Tùng


BÀI HỌC SAU 30 NĂM GÓP MẶT

LTS: 2009 là năm đánh dấu 30 năm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được chính thức gia nhập tổ chức Văn Bút Quốc Tế, do nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh vận động và thành lập. Xin mời quý độc giả theo dõi bài viết dưới đây của nhà văn Sơn Tùng để biết rõ nội tình của tổ chức này, sau đúng 30 có mặt trên diễn đàn quốc tế.



Tháng 7 năm 1979 có một biến cố đáng ghi nhớ trong đời sống của người Việt tị nạn ở hải ngoại nhưng hầu như không được mấy ai biết đến. Ðó là Ðại Hội Văn Bút Quốc Tế (International PEN) họp từ ngày 20 đến 26 tháng 7 năm 1979 tại Rio de Janeiro, Brazil, đã chính thức thu nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại làm hội viên.

Biến cố này đáng ghi nhớ vì mang hai ý nghĩa đặc thù.

Thứ nhất, sau ngày chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ (30.4.1975), đây là lần đầu tiên người Việt Nam không cộng sản được thu nhận làm hội viên của một tổ chức quốc tế lớn có sự góp mặt của hơn một trăm quốc gia.

Thứ hai, sự kiện lịch sử ấy diễn ra không phải là thành tích của một tập thể với danh xưng to lớn nhưng là kết quả do cuộc vận động đơn lẻ của một cá nhân với tất cả nhiệt tình và niềm tin nơi chân lý.

Thực vậy, năm 1977, chỉ hai năm sau cái chết của tự do tại Nam Việt Nam, trong khi những người Việt tị nạn đầu tiên còn đang hoang mang ngỡ ngàng trên những đất nước xa lạ và những người khác tiếp tục ra đi tìm tự do, Nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh đã có mặt tại Ðại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 42 ở Sydney, Úc Châu, với tư cách một thành viên trong phái đoàn Văn Bút Pháp nhưng mục đích là để kêu gọi các đồng nghiệp quốc tế quan tâm tới nghịch cảnh của những nhà văn Viêt Nam đang bị ngược đãi dưới chế độ cộng sản và xin thành lập Trung tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Ðiều cần ghi nhớ là vào khoảng thời gian những năm tiếp sau sự chấm dứt của cuộc chiến tranh khốc liệt tại Việt Nam, thế giới dường như đều đồng ý với nhau rằng mọi vấn đề liên quan đến cuôc tranh chấp kéo dài tại Việt Nam trước đây đều đã được giải quyết, vậy mà chỉ hai năm sau ngày Việt Nam được “giải phóng” lại có một nhà văn lên tiếng trước diễn đàn Văn Bút Quốc Tế (VBQT) để báo động về sự tàn bạo sau chiến tranh tại Việt Nam.

Có thể nói Bà Minh Ðức Hoài Trinh là người đầu tiên đã lên tiếng tố cáo trước một diễn đàn quốc tế về sự thật của cái gọi là “giải phóng” tại Việt Nam sau ngày 30.4.1975, điều mà không mấy ai chờ đợi để được nghe sau hàng chục năm thế giới được tuyên truyền mọi điều tốt đẹp về phía những “du kích quân khoác khăn rằn” chiến đấu chống lại chế độ “bù nhìn của Mỹ” ở Sài-gòn. Và VBQT cũng là tổ chức đầu tiên đã lên tiếng phản đối chế độ mới tại VN khi một kháng thư được gửi tới nhà cầm quyền cộng sản, do yêu cầu của Bà Minh Ðức Hoài Trinh tại Ðại Hội Sydney.

Năm sau, 1978, Nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh lại có mặt tại Ðại Hội VBQT lần thứ 43 ở Stockholm, Thụy Ðiển, để tiếp tục tố cáo sự đàn áp người cầm bút tại VN và nạp đơn xin VBQT chấp nhận Trung tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VBVNHN) làm hội viên. Mặc dù ráo riết vận động, Bà Minh Ðức Hoài Trinh đã không đạt được ý nguyện vì gặp phải sự chống đối của khối cộng sản và thân cộng. Kết quả cuộc bỏ phiếu tại Ðại Hội Ðồng VBQT kỳ 43 với 23 phiếu thuận và 23 phiếu chống đã khiến đơn xin gia nhập VBQT của VBVNHN phải gác lại tới Ðại Hội Ðồng kỳ 44, được tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil, vào tháng bảy năm sau.

Vấn đề được bàn cãi về trường hợp Văn Bút VN Hải Ngoại là có một số ý kiến muốn lập thêm một chi nhánh cho các nhà văn Việt Nam tị nạn trong Trung tâm Các Nhà văn Lưu vong (Writers in Exile Centre) đã có sẵn, thay vì thành lập một Trung tâm riêng biệt cho Văn Bút VN Hải Ngoại.

Trong phiên họp ngày 20.7.1979, bài phát biểu đầy nhiệt tình của Nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh đã thuyết phục được đa số đại biểu, và với 25 phiếu thuận, 12 phiếu chống, 1 phiếu trắng, Ðại Hội Ðồng VBQT đã chấp nhận VBVNHN trở thành một Trung tâm mới của VBQT.

Báo chí tại Brazil và nhiều nơi khác đã tường thuật về biến cố này với những lời tán dương cuộc vận động của Nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh. Nhưng, tin này đã không được mấy người Việt tị nạn ở hải ngoại biết đến vì vào thời điểm ấy, mọi người đang ở trong tình cảnh tan tác phải tự tìm đường sống, thậm chí chưa có một phương tiện truyền thông và chưa thành hình được một cộng đồng. Chỉ có một nhóm sinh viên VN tại Paris theo dõi tin tức và đã chờ đón Nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh tại Phi trường De Gaulle, vui mừng reo hò khi bà trở về Pháp trong thành công.

Văn Bút VNHN lúc đầu chỉ gồm một số nhà văn nhà báo VN tại Pháp mà sinh hoạt chỉ thu hẹp trong việc cung cấp cho Ủy ban Nhà văn bị Cầm tù (Writers in Prison Committee) của VBQT những tin tức về các nhà văn bị giam cầm tại Việt Nam. Người giữ vai trò này là ông Trần Tam Tiệp đã tạo được tín nhiệm với VBQT, đồng thời cũng bị CSVN vu khống, kết tội “biệt kích cầm bút”.

Ðầu thập niên 1980, Bà Minh Ðức Hoài Trinh sang tái định cư tại Mỹ. Luật sư Trần Thanh Hiệp trở thành chủ tịch VBVNHN cho đến năm 1987, VBVNHN mới tổ chức được Ðại Hội lần thứ nhất tại Vùng Hoa Thịnh Ðốn, Hoa Kỳ, và đã được mở rộng dưới hình thức “liên trung tâm” gồm Trung tâm Âu Châu, Trung tâm Miền Ðông Hoa Kỳ, Trung tâm Quebec, và Trung tâm Ontario, Canada.

Ðại Hội VBVNHN lần thứ II được tổ chức tại Montréal, Canada, từ ngày 28 đến 30.9.1989 với 5 Trung tâm tham dự (Âu Châu, Ontario, Quebec, Miền Ðông Hoa Kỳ, và Nam Cali), đã bầu Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn làm Chủ tịch Ban Chấp hành VBVNHN với nhiệm kỳ 2 năm, thay thế ông Trần Thanh Hiệp. Cũng tại Ðại Hội này, Bản Ðiều Lệ đầu tiên của VBVNHN đã được thông qua (ngày 30.9.1989).

Ðại Hội VBVNHN lần thứ III được tổ chức tại Toronto, Canada, trong hai ngày 12 và 13.10.1991, đã bầu Nhà văn Trang Châu làm chủ tịch BCH. Cũng tại Ðại Hội này, VBVNHN đã thu nhận thêm ba Trung tâm mới: Bắc California, Nam Hoa Kỳ, và Sydney (Úc Châu). Cộng chung, VBVNHN có 8 Trung tâm sinh hoạt tự trị.

Ðại Hội VBVNHN lần thứ IV được tổ chức tại San Jose, California, Hoa Kỳ, trong hai ngày 26 và 27.11.1993, đã bầu Nhà văn Viên Linh làm Chủ tịch BCH.

Ðại Hội VBVNHN lần thứ V được tổ chức tại Garden Grove, Nam California, Hoa Kỳ, vào hai ngày 25 và 26.11.1995, nhưng vừa khai mạc đã tan vỡ vì BCH đã thu nhận 4 Trung tâm mới (Bắc Âu Châu, Florida, Georgia, Louisiana) mà không thông qua Ðại Hội Ðồng VBVNHN đưa đến việc tranh cãi giữa Chủ tịch Viên Linh và các đại biểu Ðại Hội Ðồng VBVNHN.

Cuộc khủng hoảng nội bộ đã kéo dài hơn 5 năm VBVNHN mới được phục hoạt qua một Ðại Hội bất thường tại Virginia trong 2 ngày 24 và 25.3.2001, và Nhà văn Minh Ðức Hoài Trinh một lần nữa được bầu làm Chủ tịch BCH VBVNHN.

Ðại Hội VBVNHN kỳ VI được tổ chức tại Westminster, Nam California, Hoa Kỳ, trong 2 ngày 22 và 23.3.2003 đã bầu BCH mới với Ông Phạm Quang Trình làm chủ tịch, nhưng chỉ hơn một năm sau, khủng hoảng nội bộ lại xảy ra một lần nữa, đưa đến sự can thiệp của VBQT kéo dài cho đến tháng 12. 2008.

Hai cuộc khủng hoảng nội bộ trong hơn mười năm mà có lúc đã đưa VBVNHN gần đến chỗ tan rã, và với tư cách hai lần làm Chủ tịch BCH (1996-1998 và 2006-2008) trong vai trò người lèo lái con tàu VBVNHN qua cả hai cơn sóng gió ấy, tôi muốn đưa ra vài nhận xét một cách thẳng thắn và xây dựng, để từ đó có thể tránh được những xáo trộn trong tương lai.

Trong cả hai cuộc khủng hoảng, nguồn gốc đều phát xuất từ 3 khuyết điểm:
- - Khuyết điểm của bản Ðiều Lệ VBVNHN;
- - Khuyết điểm cá nhân của những người trong cuộc;
- - Khuyết điểm của các viên chức VBQT.

Cuộc khủng hoảng thứ nhất đã xảy ra khi Nhà văn Viên Linh, Chủ tịch BCH nhiệm kỳ 1993-1995, đã lợi dụng khuyết điểm của bản Ðiều Lệ VBVNHN để lập thêm 4 Trung tâm mới với mục đích kiếm phiếu để ở lại chức vụ thêm một nhiệm kỳ khi biết đã mất tín nhiệm với các Trung tâm hiện hữu.

Bản Ðiều Lệ VBVNHN được thông qua năm 1989, sau đó đã được tu chính 2 lần vào năm 1991 và 1993, nhưng điều khoản về các Trung tâm (Ðiều 7 tới Ðiều 10) vẫn giữ nguyên mà căn bản là không giới hạn số Trung tâm được thành lập, miễn là có ít nhất 10 hội viên, và có quyền “tự trị”.

Các điều khoản này đã tạo ra sự lạm dụng, đưa đến việc thành lập quá nhiều Trung tâm, cũng như thu nhận những hội viên không đủ tiêu chuẩn theo quy định của VBQT, có lượng mà không có phẩm. Hậu quả là tình trạng “lạm phát” các “Trung tâm” với một số hội viên bất xứng.

Năm 1995, xáo trộn bắt đầu xảy ra khi Ông Viên Linh dựa vào vài chữ bị sửa đổi trong Ðiều 8 (Khoản b) để lập thêm 4 Trung tâm mới và đòi cho các đại biểu của 4 Trung tâm này được quyền bỏ phiếu bầu BCH ngay. Ðại Hội Ðồng không chấp nhận, cho rằng bản Ðiều Lệ đã bị “cạo sửa” với gian ý, và đòi 4 Trung tâm mới phải được Ðại Hội Ðồng cứu xét thu nhận từng trường hợp và chỉ được quyền bỏ phiếu ở Ðại Hội kỳ sau như tiền lệ đã có. Tranh cãi đã không đi đến giải pháp và Ðai Hội Ðồng tan vỡ.

Ngày hôm sau, vì Ðại Hội Ðồng không tiếp tục nhóm họp như chương trình, các đại biểu của 6 trên 8 Trung tâm hiện hữu đã họp riêng và bầu ra một BCH lâm thời, tuyên bố sự mãn nhiệm của BCH do Ông Viên Linh làm Chủ tịch.

Ba tháng sau, Ðại Hội kỳ V Khóa 2 được tổ chức tại Houston, Texas, với sự tham dự của 6 Trung tâm để bầu BCH nhiệm kỳ 1996-1998. Ðồng thời, Ông Viên Linh cũng tổ chức “Ðại Hội” tại Nam California để tự phong “chủ tịch”, khiến một số người cho rằng VBVNHN đã “vỡ làm hai”.

Theo lý và tình, người vô tư rất dễ nhận thấy sự sai trái của Ông Viên Linh: một chủ tịch mãn nhiệm đã làm mọi cách để ngồi lại, bất chấp Ðiều Lệ và chống lại quyết định của Ðại Hội Ðồng với đa số đại biểu theo thể thức sinh hoạt dân chủ.

Vì ông Viên Linh không chịu rút lui và khiếu nại với VBQT, việc nội bộ của VBVNHN đã trở thành một cuộc khủng hoảng kéo dài khi Ông Tổng Thư Ký VBQT lúc ấy, Alexandre Blokh, ủy nhiệm Luật sư Trần Thanh Hiệp thành lập một Ủy ban gồm các cựu chủ tịch VBVNHN để giúp “hòa giải hai phe”.

Quyết định của Ông Blokh nhìn qua có vẻ như là một sáng kiến hợp lý, nhưng đã trở thành một tai họa cho VBVNHN vì đã chọn lầm người. Thứ nhất, ÔngTrần Thanh Hiệp, tuy là một cựu Chủ tịch VBVNHN nhưng đã ra khỏi hội từ nhiều năm nay. Về nguyên tắc, cử một người bên ngoài để giải quyết việc nội bộ của một Trung tâm hội viên VBQT là không đúng. Thứ hai, theo thủ tục thông thường, khi cử một người làm trung gian hòa giải cuộc một tranh chấp phải được sự đồng ý trước của các phe liên hệ. VBVNHN đã không được hỏi ý kiến về việc cử Ông Hiệp làm trung gian hòa giải. Thứ ba, Ông Trần Thanh Hiệp, một người làm chính trị trong cộng đồng người Việt tại Pháp, đã lợi dụng vai trò được VBQT giao phó để cố tình gây thanh thế cá nhân.

Có lẽ Ông Blokh, một người Pháp, không hiểu rõ Ông Hiệp nên đã dựa trên sự quen biết trong thời gian Ông Hiệp làm chủ tịch VBVNHN và cùng cư ngụ ở Paris nên đã tin cậy ông Hiệp sẽ giúp giải quyết việc nội bộ VBVNHN một cách nhanh chóng nên trong thư ngày 9.4.1996, Ông Blokh đã nói rõ nhờ Ủy ban của các cựu chủ tịch VBVNHN giúp “đưa hai phía lại với nhau” và làm một phúc trình cho Ðại Hội Ðồng VBQT được tổ chức tại Guadalajara vào tháng 11.1996.

Trái với sự ủy nhiệm và tin cậy của Ông Blohk, Ông Hiệp đã không đóng vai trò “trung gian hòa giải”, nhưng đã tự phong chức “Chủ tịch Ủy ban Ðặc cử VBQT” để làm quan tòa xử án, tự tung tự tác, nâng cá nhân Viên Linh lên thành “một phe” trong VBVNHN và đứng hẳn về phe này để đổi trắng thay đen, biến trái thành phải, với sự đồng lõa của một số người ở trong và ở ngoài VBVNHN. Mưu đồ này bất thành vì gặp phải sự chống đối kiên trì của khối 6 Trung tâm trong VBVNHN, để rồi đưa đến việc Ông Blokh che đậy sai lầm của mình bằng cách đề nghị Ðại Hội Ðồng VBQT họp tại Edinburg, Tô Cách Lan, vào tháng 8.1997, đặt VBVNHN vào tình trạng “tạm ngủ” (dormant) cho đến khi giải quyết xong vấn đề nội bộ. Ðây là hậu quả việc làm sai trái của Ông Viên Linh, nhưng người trực tiếp đưa đến phán quyết oan uổng cho VBVNHN chính là Ông Trần Thanh Hiệp với tham vọng cá nhân, tâm tính bất chính và tự kiêu.

Vấn đề VBVNHN chỉ được giải quyết khi Tiến sĩ Terry Carlbom được bầu thay thế Alexandre Blokh trong chức Tổng Thư Ký VBQT năm 2000, đã quyết định loại bỏ ông Trần Thanh Hiệp khỏi vai trò “trung gian hòa giải”, liên lạc thẳng với các Trung tâm của VBVNHN để tìm hiểu sự thật và lắng nghe nguyện vọng của đa số. Cuối cùng đã đưa đến việc triệu tập một “Ðại Hội Tái Lập” (Re-establishing Constitutional Convention) tại Virginia vào cuối tháng 3.2001 để kết thúc cuộc khủng hoảng nội bộ VBVNHN và đưa đến việc VBQT khai trừ 11 người đã xúc phạm thậm từ TS Terry Carlbom trong một lá thư sau khi họ tẩy chay Ðại Hội và tiếp tục thói quen vu khống, phỉ báng.

Cuộc khủng hoảng thứ hai khởi sự vào đầu năm 2005 cũng do khuyết điểm của bản Ðiều Lệ và do lầm lỗi cá nhân, khi Trung tâm Nam Hoa Kỳ sử dụng quyền tự trị để khai trừ chủ tịch của BCH Trung tâm lúc ấy là Ông Nguyễn Bửu Thoại vì đã có những hành vi lạm quyền và bất xứng. Ông Phạm Quang Trình đã không tôn trọng quyết định của đa số hội viên TT Nam Hoa Kỳ, bao che cho Nguyễn Bửu Thoại lập ra một “Trung tâm Nam Hoa Kỳ” thứ hai bất hợp lệ, tạo thành “hai Trung tâm Văn Bút” tại Nam Hoa Kỳ. Ông Trình đã một mình chống lại ý kiến của đa số thành viên trong BCH, chống lại quyết định của Ủy ban Thường trực gồm đại diện đa số các Trung tâm, một cơ cấu được Ðại Hội Ðồng thành lập năm 2003 nhưng chưa được ghi vào bản Ðiều Lệ.

Cũng như Ông Viên Linh đã làm năm 1995, Ông Phạm Quang Trình cũng khiếu nại lên VBQT để tiếp tục giữ chức “chủ tịch” trong khi đã hoàn toàn mất tín nhiệm với đa số các Trung tâm. Và cũng như Ông Viên Linh, Ông Phạm Quang Trình tuy đắc cử với một phiếu chênh lệch nhưng khi làm chủ tịch đã lạm quyền và tùy tiện hành động như một “tiểu vương” vô đức bất tài. Ðó là nguyên nhân đã gây ra xáo trộn nội bộ VBVNHN và một lần nữa đưa đến sự can thiệp của BVQT.

Vì sự chống đối của Ông Phạm Quang Trình, Ðại Hội VBVNHN kỳ VII tại Houston đã không được tổ chức như định trước và VBQT đã yêu cầu các Trung tâm thuộc VBVNHN làm văn thư ủy nhiệm VBQT đứng ra tổ chức cuộc bầu cử BCH mới cho VBVNHN, vì VBQT không thể tự ý can thiệp vào việc điều hành nội bộ của một Trung tâm hội viên.

Sau khi được ủy nhiệm, VBQT đã tiến hành cuộc bầu cử bằng thư dựa theo thủ tục được quy định trong bản Ðiều Lệ VBVNHN. Có 3 Liên danh nạp đơn ứng cử, và viên chức VBQT trực tiếp điều hành cuộc bầu cử là Peter Firkin. Sau khi đã hết hạn khiếu nại về các ứng cử viên và bắt đầu gửi phiếu bầu, Ông Firkin ra thông báo chấm dứt cứu xét các thư khiếu nại, ngoại trừ thư hỏi về thể thức bỏ phiếu. Thế nhưng, sau khi các Trung tâm đã gửi phiếu bầu cho VBQT, Liên danh 2 và Liên danh 3 tuyên bố rút tên, nại lý do thụ ủy Liên danh 1 không đủ điều kiện ứng cử. Thay vì bác bỏ sự khiếu nại trễ hạn hay tìm hiểu sự thật, VBQT lại quyết định hủy bỏ việc kiểm phiếu vì lý do chỉ còn lại một liên danh sau khi hai liên danh kia rút lui.

Trước sự khiếu nại của các Trung tâm đã gửi phiếu bầu, VBQT buộc phải làm một phiếu bầu khác để cho các Trung tâm bầu lại. Với phiếu bầu này, VBQT đã tự ý thu hẹp quyền hạn của BCH đắc cử và khuyến cáo tu chính bản Ðiều Lệ VBVNHN trong vòng 1 năm và tổ chức bầu BCH mới trong vòng 2 năm.

Với quyết định đơn phương này, VBQT đã tự cho quyền can thiệp vào việc điều hành nội bộ của VBVNHN và đã đặt VBVNHN vào tình huống hết sức khó khăn cho đến tháng 12.2008 mới được giải quyết bằng một cuộc bầu cử BCH qua thể thức trực tiếp và đơn danh, không do Ðại Hội Ðồng bầu theo thể thức liên danh như được quy định trong Ðiều Lệ của VBVNHN.

Bản Ðiều Lệ của VBVNHN, qua các xáo trộn trong quá khứ, đã lộ rõ những khuyết điểm, mà khuyết điểm lớn nhất nằm trong phần tổ chức các “Trung tâm”.

Trước nhất, danh từ “Trung tâm” đã không ổn vì không chính xác. VBVNHN là một Trung tâm (Centre, hay Center), một đơn vị của VBQT. Vì dàn trải trên nhiều quốc gia, VBVNHN cần có một số đơn vị, các đơn vị ấy nên được gọi bằng một tên khác hơn là “trung tâm”, vì không thể có những trung tâm trong một trung tâm. Một số người đã lý luận rằng, theo quan niệm của những người soạn thảo bản Ðiều Lệ đầu tiên, VBVNHN được tổ chức dưới hình thức “liên trung tâm”. Lý luận này không đứng vững và không thành thật. Không đứng vững vì nếu VBVNHN là một “liên trung tâm” thì trái ngược với cơ cấu tổ chức của VBQT, vì chính VBQT mới là một “liên trung tâm”. Không thành thật, thậm chí ngụy biện, vì VBVNHN vẫn chỉ được gọi là một Trung tâm của VBQT, và các “trung tâm” của VBVNHN khi dịch ra Anh ngữ là “chapters”, không bao giờ dịch là “centers”. “Trung tâm” mà dịch là “chapter” là sai, trừ khi tự dối mình, hay lừa dối người khác.

Nhưng, đây chỉ là sai lầm về việc dụng ngữ. Sai lầm có tính cách cấu trúc và quan trọng hơn chính là sự không giới hạn số chi nhánh cho VBVNHN. Việc bản Ðiều Lệ quy định cho thành lập quá dễ dàng các “trung tâm” mới với quyền “tự trị” là nguyên nhân chính đưa đến các xáo trộn đã xảy ra, như đã dẫn chứng ở trên.

VBVNHN đã có cơ hội để sửa chữa các sai lầm trong bản Ðiều Lệ khi “Ðại Hội Tái Lập” tại Virginia năm 2001 đã đặt ra một “Ban Tu chính Ðiều Lệ” để làm lại một bản Ðiều Lệ hoàn chỉnh hơn, nhưng sau hai năm, bản Ðiều Lệ “tu chính” được thông qua tại Ðại Hội kỳ VI (2003) gần như giữ y nguyên, nhất là phần liên quan đến “các trung tâm”! Nếu phần này được sửa đổi thì đã tránh được cuộc xáo trộn thứ hai xảy ra chỉ sau hơn một năm.

Với khuyến cáo mạnh mẽ của VBQT về việc sửa đổi bản Ðiều Lệ, Ðại Hội Ðồng VBVNHN kỳ VII tại Virginia vào tháng 10.2007 đã thông qua bản Ðiều Lệ tu chính với việc đổi tên các “Trung tâm” trong bản Ðiều Lệ cũ thành “Khu vực”, và quy lập một số Khu vực cố định, không được thành lập thêm.

Trong tương lai, số các Khu vực cần được giảm bớt hơn nữa, đặc biệt là tại Hoa Kỳ hiện có tới 7 Khu vực là quá nhiều, trong đó có những Khu vực ở gần nhau và quá ít hội viên, nên sáp nhập làm một.

Hội viên VBVNHN nên nhận thức rõ rằng VBQT là một tổ chức nhân quyền và văn học, không phải là một tổ chức chính trị hay xã hội cần có nhiều chi nhánh để hoạt động bề rộng. Sự góp mặt của các Trung tâm Văn Bút mỗi nước trong VBQT trước hết là tạo sức mạnh để có tiếng nói bênh vực những người cầm bút bị đàn áp trên thế giới và phát huy quyền tự do diễn đạt của nhà văn. Do đó Văn Bút các nước khác không có các chi nhánh, nói gì đến các chi nhánh “tự trị”, vì không có lý do. Văn Bút Việt Nam trước 30.4.1975 cũng không có chi nhánh nào, chỉ có một trụ sở duy nhất tại Sài-gòn làm nơi sinh hoạt cho hội viên cả nước.

Vì vậy, VBVNHN chỉ cần vài Khu vực cố định được phân chia hợp lý, giảm bớt quyền hạn của các Khu vực, và quy định lại thủ tục bầu cử để mọi hội viên đều có quyền ứng cử và bầu cử.

Chỉ bao giờ thực hiện được những cải tổ hợp lý như trên, VBVNHN mới sinh hoạt hữu hiệu và tránh được nguy cơ lại xảy ra một hay nhiều cuộc xáo trộn khác nữa.

Khuyết điểm của bản Ðiều Lệ và cơ cấu tổ chức không hợp lý đã tạo cơ hội cho một số hội viên bất xứng gây xáo trộn. Cuộc xáo trộn thứ nhất đã không xảy ra nếu Ðiều Lệ không cho phép lập thêm các “trung tâm”mới để Ông Viên Linh lạm dụng. Cuộc khủng hoảng thứ hai cũng đã không xảy ra nếu Ông Nguyễn Bửu Thoại không thể dựa vào Ðiều Lệ để lập ra một “trung tâm ma” khi bị khai trừ.

Qua ba nhiệm kỳ đầu tiên, VBVNHN không xảy ra xáo trộn vì chưa có người khai thác khuyết điểm của bản Ðiều Lệ. Sau khi Ông Viên Linh tạo ra tiền lệ, một số hội viên thay vì thu nhận được bài học ê chề của những người làm bậy, lại đi theo vết chân của những kẻ ấy để gây tai họa cho tập thể mà cuối cùng cũng chỉ nhận lấy thất bại và sự ô nhục.

Một số người, nếu thành khẩn, phải tự biết là họ không đủ tiêu chuẩn để làm một hội viên Văn Bút, nhưng sau khi luồn lách nắm được một chức vụ nào đó, với hoang tưởng về “chức quyền”, liền phản bội những người đã nâng đỡ và tín nhiệm mình, hành động tùy thích, bất chấp lương tri, bẻ queo Ðiều Lệ, vứt bỏ nguyên tắc dân chủ, gây xáo trộn nội bộ và dựa vào sự thiếu thông hiểu của một vài viên chức ở VBQT để chống lại tập thể.

Chính sự thiếu thông hiểu nội tình VBVNHN của vài viên chức tại VBQT đã đưa đến những quyết định không hợp lý, một mặt đã không giải quyết được vấn đề mà còn vô tình khuyến khích một thiểu số gây xáo trộn.

Sự thiếu thông hiểu khởi đầu với Ông Alexandre Blohk. Do sự đầu độc của Ông Trần Thanh Hiệp, Ông Blohk nghĩ rằng VBVNHN ở trong tình trạng “phân hóa” trầm trọng do các phe phái tranh chấp nhau, trong khi sự thật chỉ đơn giản là do xuẩn động của một cá nhân. Ngộ nhận tai hại này đã khiến vấn đề không được giải quyết mau lẹ, lôi kéo một số người, ở trong và ở ngoài Văn Bút, nhập cuộc với những mục đích khác nhau, làm cho sự xáo trộn ngày một thêm trầm trọng.

Ngoại trừ Tiến sĩ Terry Carlbom, với sự bén nhạy và làm việc hiệu quả, đã nhìn thấy nguyên nhân của vấn đề và giúp chấm dứt cuộc xáo trộn đầu tiên vào năm 2001, một số viên chức tại VBQT sau này lại tiếp tục sự ngộ nhận của các người tiền nhiệm và có thành kiến đối với VBVNHN mà tôi đã phải kiên nhẫn làm mọi cách thay đổi cái nhìn của họ – để tìm giải pháp chấm dứt xáo trộn và cũng để bảo vệ phẩm cách của người cầm bút VN trước mắt quốc tế đã bị tổn thương khá nhiều vì sự phá hoại của vài cá nhân bất xứng.

Với cuộc bầu cử BCH thành công vào tháng 12 vừa qua, và với những bài học trong quá khứ, mong rằng mọi hội viên VBVNHN cũng như các Khu vực sẽ hợp tác với nhau để sớm tu chính bản Ðiều Lệ, loại bỏ những khuyết điểm đang có. Ðồng thời, những thủ phạm đã gây ra các cuộc xáo trộn vừa qua cũng cần nhận được bài học rằng có vu khống, bịa đặt, phỉ báng, lừa dối cho lắm, họ cũng chỉ là một bầy quạ đen, không bao giờ che khuất được ánh mặt trời Chân Lý.

(Tháng 2/2009)
Sơn Tùng

Copyright © 2008 - All rights reserved.