bao the gioi


Chùm gởi hay Ghi - Cây thuốc với nhiều triển vọng
Tiến sĩ Dược khoa Trần Việt Hưng


Chùm gởi hay Ghi, Mistletoe (Viscum album), là một dược thảo khá đặc biệt, được sử dụng tại Âu châu để trị những bệnh về lá lách, và riêng tại Đức để trị Ung thư (Mistletherapie), nhưng hầu như không được dùng tại Hoa Kỳ.

Tên Mistletoe cũng cần được phân biệt rõ rệt: Mistletoe dùng làm dược liệu tại Âu châu thuộc loài Viscum, trong khi đó Mistletoe bán tại Hoa Kỳ để làm cây trang trí trong dịp lễ Giáng sinh lại thuộc loài Phoradendron, là hai cây khác nhau.

Tại Việt Nam, tên Ghi có lẽ do từ tên Pháp Gui, dùng để gọi một số loài chùm gởi (tầm gửi), và để phân biệt từng loài, tên thường di chung vớí đặc tính của cây như Ghi có đốt, Ghi lá xoan, Ghi trắng..

Đông Y cũng dùng Chùm gửi làm thuốc, nhưng vị thuốc được cung cấp bởi nhiều loài khác nhau như Viscum, Loranthus.. và dược liệu được dùng là loài mọc ký sinh trên cây dâu, gọi là Tang ký sinh.

Mistletoe đã được sử dụng tại Âu châu từ hàng chục thế kỷ... và đã từng là một cây được giới thanh niên hào hoa ưa thích vì tục lệ cho phép họ... vào dịp Giáng sinh được quyền hôn một phụ nữ dưới chùm cây “mỗi khi họ ngắt một quả berry... và khi đã ngắt hết quả.. thì quyền được hôn cũng... chấm dứt! (Washington Irving trong Christmas Eve: History, Tales and Sketches).

Mistletoe đã được Theophrastus, một nhà thực vật Hy lạp mô tả từ Thể kỷ thứ 3 trước Tây lịch, và đã liên hệ mật thiết đến những nghi thức tôn giáo, dân gian và chữa bệnh tại Âu châu. Đây là cây thuốc 'linh thiêng' của dân Celtic: các giáo sĩ Celtic hay Druids, đã tôn sùng những cây sồi có mistletoe mọc (le gui de chene); và đến khi ăn mừng Ngày Samhain của mùa Đông cây sồi được bóc sạch vỏ chỉ chừa lại những chùm mistletoe xanh tươi, và những chùm này tượng trưng cho một sự phì nhiêu muôn thuở. Người Celts treo những chùm mistletoe nơi cửa nhà và đây là biểu hiệu cấm không được gây gổ, đánh nhau dưới chùm mistletoe. Mistletoe theo chữ Celtic có nghĩa là “Trị bá bệnh”... đã được dùng để trị kinh phong, hiếm muộn, huyết áo cao và sưng xương khớp.

Đến 1921, Rudolf Steiner đã đưa ra ý kiến dùng Mistletoe để trị ung thư: một số y viện tại Đức và Thụy Sĩ cho đến nay vẫn áp dụng phương thức trị ung thư bằng một dung dịch lên men từ Mistletoe bằng chủng Lactobacillus plantarum trong 3 ngày. Chế phẩm được đặt tên là Iscador.

Tên Khoa học, tên thường dùng, Đặc tính thực vật:

Mistletoe, còn được gọi là Bird lime (Anh), All heal, Devil's fuge, Golden bough; tại Đức: Mistelkraut, Vogel- hay Leimmistel, Hexenbeden; tại Pháp: Herbe de Gui.

Mistletoe Âu châu hay Viscum album và các loài Mistletoe Mỹ châu như Phoradendron flavescens, P.serotinum, P.tomentosum đều thuộc Họ thực vật Loranthaceae/ Viscaceae.

Họ Loranthaceae gồm khoảng 20 loài cây bụi có màu xanh quanh năm, sống ký sinh trên một số cây. Mistletoe phát triển nhờ chim ăn quả berry và sau đó thải ra hay nhả trên thân cây sau khi dùng mỏ quẹt làm lộ lớp thân của cây; nếu gặp những điều kiện thích hợp, hạt sẽ nẩy mầm và rễ ăn vào cành của cây ký chủ. Tên Mistletoe có lẽ do từ Mistletan, (mist=bird lime; tan=twig), Mistletoe được xem là một loài bán ký sinh (semi parasitic), có thể tự tổng hợp chlorophyll nhưng phải nhờ vào ký chủ để được cung cấp nước và muối khoáng. Tại Âu châu Mistletoe hay mọc ký sinh nơi các cây táo, poplar và mận.

Viscum album (album=trắng) hay Ghi trắng thuộc loại bụi, có gốc dầy, với nhánh dài 10-60 cm, phân nhánh chia đỗi, có đốt, màu xanh đậm, hình trụ. Lá mọc đối, thuôn và có rãnh nơi gốc. Hoa nhỏ màu vàng lưỡng phái. Quả mọng (berry) trắng nhạt, hình cầu 7 x 8 mm. (Tại Việt Nam có loài V. album var meridi anum mọc trong vùng Chapa, Lao Kay, Bắc Việt).

* Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học của Viscum album được nghiên cứu phần lớn tại Âu châu.
Các hoạt chất chính, quan trọng nhất là những proteins chia làm 2 nhóm chính: Viscotoxins, phân tử lượng nhỏ (5kD) là những proteins chứa nhiều cystein, còn gọi là thionins; và Lectins, có phân tử lượng cao.

Viscotoxins: 4 loại viscotoxines (A1, A2, A3 và B) đã được lý trích và thứ tự sắp xếp các acid amin đã được xác định : Đây là những proteins đồng dạng có 46 acid amin, chỉ khác nhau do ở vài vị trí của acid amin. Cấu trúc 3 chiều của Viscotoxin A3 đã được định bằng phương pháp NMR (Cộng hưởng Điện Từ). Hai viscotoxin mới 1-PS và U-PS, mới ly trích được từ những loài phụ autriacum (ký sinh trên thông) và loài phụ abietis (ký sinh trên cây fir). Trong khi đó các viscotoxin của V. album lại không thay đổi dù mọc ký sinh trên 7 loại cây khác nhau. Loài chùm gởi Mỹ Phoradendron tomentosum có chứa một loại viscotoxin tương đồng, gọi là phoratoxin. Chế phẩm Iscador@ có chứa lượng viscotoxin tương tự như trích tinh V. album (dạng không lên men).

Lectins: Một loại lectin có độc tính, Viscumin chiết từ Viscum album, được xếp vào loại protein gây bất hoạt ribosome loại II. Ba lectins khác nhau: ML1 (hay Viscumin) ML2 và ML3 cho thấy có những đặc tính riêng trong tác dụng kết dính với các carbohydrate. Sự sắp xếp các vị trí của các acid amin trong chuổi B của ML1 đã được xác định, cho thấy có những điểm tương đồng với các lectins galactose chuyên biệt như ricin và abrin. ML1 kết dính với nhiều sialylglycoprotein ngoài các đặc tính kết nối chuyên biệt với galactose. Một lectin khác, được xem là loại phụ của ML1, có chứa chitin cũng đã được xác định và đạt tên là ML1-3 Trong chế phẩm Iscador: ML1 hầu như bị thoái hóa, trong khi đó ML2 và ML3 đều còn hiện diện.

Carbohydrates: các polysaccharides tan trong nước của V. album đã được tinh khiết hóa và xác dịnh: một Galacto uronan và một hợp chất Arabinogalactane phức tạp

Các hợp chất khác: Trong Viscum album còn có những Phenylpropanes và lignans như Syringin, Syringenin-4-gluco side và syringaresinol 4',4''-diglucoside ; chất chuyển hóa từ caffeic acid; các flavonoids, các amines như tyrosine..

Đặc tính Dược học:

Cần chú ý phân biệt giữa phương thức sử dụng dược liệu: Dược liệu khi dùng bằng cách uống như dưới dạng trà dược (để trị huyết áp cao), và cách tiêm chích có những đặc tính trị liệu khác nhau.

Tác dụng trên Hệ Tim mạch: Mistletoe được dùng trong Y học cổ truyền tại Âu châu để trị các bệnh tim mạch. Các viscotoxins gây ra những phản xạ làm chậm nhịp tim và có tác dụng làm giảm độ cường của cơ tim nơi tim mèo. Khi dùng liều cao, có thể gây tác dụng co mạch. Phoratoxin (trong Mistletoe Mỹ châu) có tiềm lực yếu hơn. Một số nghiên cứu cho thấy các phenylpropanoids có thể là những tác nhân chính khiến mistletoe có ảnh hưởng trên hệ tim-mạch, bằng cách ức chế cAMP phosphodiesterase. Tuy nhiên những tác dụng tìm được trên thú vật lại không áp dụng được nơi người. Ngoài ra tác dụng hạ huyết áp của viscotoxin lại chỉ xẩy ra khi dùng theo đường tiêm chích nên thuốc uống.. không có tác dụng.. Tác động hạ huyết áp của Mistetoe có lẽ tùy thuộc vào dạng thuốc sử dụng và vào cây ký chủ mà mistletoe mọc: Dạng trích tinh có hoạt tính mạnh nhất, và lá mistletoe mọc trên cây willow, hái vào tháng Giêng.. hạ huyết áp nhiều nhất. Tại Châu Âu có rất nhiều thuốc hạ huyết áp dùng mistletoe, tại Anh có đến 150.. đặc chế trên thị trường, có chứa mistletoe, phối hợp với Tỏi, Sơn tra...v.v..
Tác dụng trị Ung thư: Vấn đề dùng Mistletoe đang là những chủ đề tranh luận giữa các nhà chuyên môn. Rất nhiều nghiên cứu về các chế phẩm từ Mistletoe như Iscador@ , Plenosol@, Helixor@.. đã được công bố trên các báo y học, nhất là tại Đức và Anh. Những lectins, mới ly trích được từ Mistletoe trong những năm gần đây (vài loại rất tinh khiết), thường gồm những dây polypeptid A và B, cùng với phần carbohydrat cho thấy những tác dụng diệt những tế bào ung thư loại carcinoma rất rõ rệt: tế bào u bướu ascite nơi chuột, tế bào u bướu loại KB và HeLa nơi người.

Các nghiên cứu khác cũng cho thấy phần polysaccharides có thể trợ lực cho các lectins. Đặc chế Helixor@ có tác dụng diệt tế bào ung thư leukemia cấp tính đã kháng thuốc 'in vitro'. Trong một thử nghiệm tại Thụy Sĩ vào 1996, dùng đặc chế Eurixor @ (trích tinh Mistlrtoe có lượng ML-1 tiêu chuẩn hóa), trên các bệnh nhân bị ung thư tụy tạng ở giai đoạn sau cùng, tuy không cho những kết quả về trị liệu nhưng chứng minh được khả năng giúp các bệnh nhân bớt được những cảm giác đau khá rõ rệt.

Mặt khác những thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy Mistletoe có thể tác dụng trên ung thư bằng cách ảnh hưởng trên hệ miễn nhiễm: Nơi chuột Iscador làm gia tăng trọng luợng tuyến thymus gấp đôi và làm nhanh thêm tiến trình hồi phục của tủy sống và lá lách sau khi chịu tác dụng của tia X. Một hợp chất trong phần trầm lắng của trích tinh mistletoe bằng alcol cho thấy có tác dụng trợ lực cho chuột chống lại ảnh hưởng của hồng huyết cầu trừu. Hợp chất rhamnogalacturonan trích từ mistletoe giúp tăng hoạt các tế bào sát thủ tự hiên chống lại tế bào ung thư loại K562..

Một số các thử nghiệm khác cho thấy trích tinh Mistletoe làm gia tăng số lượng các Bạch huyết cầu, và tăng sự tiết các cytokines như Interleukin-1, Interleukin-6 và Yếu tố hoại thư tế bào loại alpha.

Phương thức sử dụng: Mistletoe được chính thức sử dụng tại Đức (ghi trong DAB10) và tại Anh (BHP 1983). German Commission E (Cơ quan hữu quyền về Dược thảo tại Đức) đã ghi Mistletoetrong Chuyên mục B Anz số 228, ngày 05.12.1984 cho phép dùng dược thảo dưới dạng cây tươi, tán thành bột chế thành thuốc tiêm/chích... để trị sưng khớp xương suy thoái, và làm thuốc trợ lực trong các bệnh u-bướu ung thư.

Tại Âu châu có khá nhiều dược phẩm chứa Mistletoe: Asgoviscum, Craviscum, Hyperidist, Mistlelan, Mistel-Pflanzen saft Kneipp (nước cốt lấy từ cây), Viscysat.. Tại Anh, chế phẩm nổi tiếng nhất là Iscador.
Tại Hoa Kỳ, Viscum album là một dược thảo chính thức của Homeopathy và Chế phẩm Iscar là dạng tương tự với Iscador, thuốc chích chỉ được bán theo toa.
Theo British Herbal Pharmacopoeia, liều được dùng thường là (1) Lá khô 2-6 gram, 3 lần/ ngày; (2) Thuốc rượu=Tincture 1:5 (45 % alcohol) : 1-3 ml, 3 lần/ngày; (3) Trích tinh lỏng 1:1 (25% alcohol): 0.5 ml, 3 lần/ngày
Độc tính: Tất cả các bộ phận của Mistletoe, kể cả quả mọng và lá đều được xem là có độc tính; các trường hợp ngộ độc cần được điều trị khẩn cấp. Quả mọng thường độc hơn là cành, lá. Những triệu chứng ngộ độc gồm: tim đập chậm, sưng ruột-bao tử, tăng huyết áp, mê sảng, chảy nước mũi và thấy ảo giác.. Tuy nhiên, đa số các trường hợp ăn nhầm Mistletoe thường không có những phản ứng đáng kể.
Tang ký sinh (Sang-Chi-Seng): Đông Y dùng các cây chùm gởi mọc ký sinh trên cây dâu để làm thuốc. Tang ký sinh, trược đây được gọi là Tang thượng ký sinh, ghi trong Thần nông Bản thảo Kinh như một vị thuốc thượng đẳng.

Đông Y cổ truyền phân biệt các loại: (1) Bạch ký sinh (Pei-chi-seng), lấy từ Viscum album var. coloratum (2) Quảng ký sinh (Kuang-chi seng) từ Scurrula parasiticus (3) Thị ký sinh (Shih-chi-seng) từ Taxillus yadoriki và (4) Đài loan ký sinh (Taiwan chi seng) từ Scurrula tozanensis..

Tang ký sinh được xem là có vị đắng, tính bình; tác dụng vào các kinh mạch thuộc Can và Thận. Dược liệu được dùng là phần đọt và cành phơi khô; có những tác dụng bồi bổ gan /thận, trừ thấp, bổ gân cốt và an thai... dùng để trị đau nhức khớp xương, gân, cứng lưng, đau cổ, động thai, xuất huyết khi có thai.. Liều dùng từ 9-16 gram.

Chùm gởi tại Việt Nam: tại Việt Nam, ngoài loài Viscum album hay Ghi trắng, còn có các loài: Viscum articulatum hay Ghi có đốt, Tầm gửi dẹt, mọc rất phổ biến từ Bắc đến Nam thường dùng để cầm máu, 'thư cân-hoạt lạc' và Viscum ovalifolium hay Ghi lá xoan, khá phổ biến tại Nam Việt Nam, dùng nấu nước tắm cho trẻ bị sốt..

Loài Mistletoe Triều Tiên (V. album var coloratum) ít độc hơn loài Âu châu. Tác dụng trị ung thư lại do một alkaloids hơn là do những lectins, và tác dụng trên tế bào ung thư khá mạnh.

Tiến sĩ Dược Khoa Trần Việt Hưng

Copyright © 2008 - All rights reserved.