bao the gioi


Danh nhân Việt tộc Tôn Dật Tiên
100 NĂM CÁCH MẠNG DÂN QUỐC

Hà Nhân Văn


Hàng năm cứ vào tháng 10, Đài Loan và nhiều cộng đồng Hoa kiêàu trên thế giới lại long trọng kỷ niệm Cách Mạng Dân Quyền Trung Quốc năm Tân Hợi, ngày 10 tháng 10 năm 1911, gọi tắt là Cách Mạng Tân Hợi với lễ Song Thập.

Tôn Dật Tiên là cha đẻ của Cách Mạng Tân Hợi, được tôn là Quốc phụ Trung quốc cận đại. Hơn lúc nào hết, Cách Mạng Tân Hợi và phương lực đấu tranh của Tôn đại nhân rất đáng và cần thiết cho người Việt hải ngoại chúng ta rút tỉa kinh nghiệm. Đây là một bài học vô cùng quí giá cho các lực lượng đấu tranh Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng một mục đích quang phục tổ quốc và canh tân Việt Nam.

Tôn Dật Tiên sinh ngày 12 tháng 11 năm 1866, người thôn Thủy Hanh, huyện Hương Sơn, còn gọi là Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông. Tiên sinh có biệt hiệu là Tôn Trung Sơn (Sun Yixian hay Sun Yat sen) và Tôn Văn thuộc gia đình nông dân theo đạo Tin Lành. Phu nhân là bà Tống Khánh Linh kém chồng nhiều tuổi. Con gái họ Tống "đệ nhất tài phiệt Trung quốc" là chị ruột của bà Tống Mỹ Linh, phu nhân Thống chế Tưởng Giới Thạch. Bà Khánh Linh là phụ nữ Á châu đầu tiên đậu bằng Cao học (master) Đại học Georgia đầu thế kỷ 20. Tôn Trung Sơn theo học Y khoa ở Hồng Kông, đậu bác sĩ năm 1892, nhưng bỏ nghề, dâng hiến trọn đời ông cho cách mạng và đại nghĩa phục hưng Trung quốc.

Vừa đậu y khoa bác sĩ năm 26 tuổi, đang độ "lòng xuân phơi phới", Tôn Văn gửi điều trần thư lên Lý Hồng Chương (1823-1901), một đại thần nhất phẩm triều đình Mãn Thanh, thỉnh cầu triều đình đổi mới chế độ, canh tân Trung quốc, lấy tự cường làm căn bản. Lý Hồng Chương bác bỏ. Lúc này nhà Thanh cũng đang cổ võ trào lưu canh tân Trung quốc gọi là cuộc "vận động Dương vụ" do Lý Hồng Chương khởi xướng với chủ trương dựa vào các nước Tây phương, mở rộng thị trường, kêu gọi ngoại quốc đầu tư và các nhà tư sản bỏ vốn phát triển công nghiệp, khuyến cáo kinh doanh theo kiểu tư bản Tây phương, lại kêu gọi các nước Tây phương giúp Trung quốc chế tạo súng đạn, mở xưởng đóng tàu, giúp Trung quốc canh tân quân đội và huấn luyện binh sĩ. Đổi lại, Lý Hồng Chương phải nhượng bộ Tây phương qua các hiệp ước bất bình đẳng. Chính quyền càng ngày càng tham nhũng thối nát.

Tôn Văn thấy rằng nếu hợp tác với chính quyêàn đương tại là sai lầm. Phải phát động một cuộc đấu tranh để lật đổ bạo quyền mới cứu nguy được Trung quốc, giành lại quyền tự quyết cho dân tộc ông. Tôn Trung Sơn tự coi là mình có sứ mệnh kế thừa phong trào "Thái Bình Thiên quốc" (1850-1863) chống nhà Thanh, ông tôn sùng Hồng Tú Toàn, lãnh tụ của phong trào là người anh hùng số một chống nhà Thanh (họ Hồng cũng người Việt Đông).

Tôn Trung Sơn dứt khoát đi theo con đường mới, cách mạng dân tộc dân chủ. Tiên sinh coi khối Hoa kiều hải ngoại là một hậu thuẫn cần thiết nhất và ông sớm phải rời khỏi nước mới có thể có cơ hội cứu nước. Tiên sinh sang Honolulu, Hawaii. Ông vận động Hoa kiều ở đây thành lập Trung Hưng hội (Hsing meng hui), xây dựng lực lượng chống nhà Thanh, lấy hải ngoại làm căn cứ địa phát động cuộc đấu tranh.

Tháng 11, 1894 tổ chức ra đời, hầu hết là Hoa kiều chiếm tới 75%, trong đó 48% là giới tư sản. Chương trình hành động của hội là "học tập những điều phú quốc cường binh" để đạt mục đích chấn hưng Trung Hoa và duy trì quốc thể thì Hưng Trung hội là một tổ chức cách mạng sớm nhất Trung quốc.

Nhờ vào cương lĩnh và tuyên ngôn của Hưng Trung hội ghi rõ nhiệm vụ lật đổ ách thống trị của Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, lập nền dân chủ cộng hòa nên đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Người Hoa ở Honolulu đã tuyên truyền, vận động quần chúng ở ngoài hội, liên lạc với người Hoa ở các nước để quyên góp kinh phí, mua súng đạn, khí giới, liên lạc với các nhóm hoạt động vũ trang của đám lục lâm, hội đảng phản Thanh của nông dân để chuẩn bị các cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu (1895), Huệ Châu (1898) và có kế hoạch liên kết với phong trào "Nghĩa Hòa Đoàn" ở miền Bắc và phong trào phản đế "Tự lập quân" ở Hán Khẩu (Châu Hải, Trung quốc cách mạng đồng minh hội và các nhóm cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á - Nghiên cứu lịch sử số 5 (258), tháng 9&10, 1991, tr. 83).

Cuối cùng bị thất bại vì nhà Thanh dựa vào thế lực ngoại quốc, đàn áp khốc liệt các phong trào nổi dậy. Khác hẳn với Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vy (hai ông cũng là người Việt Đông) và các sĩ phu trong phong trào canh tân và "biến pháp duy tân" chỉ nhằm vào cuộc vận động ở quốc nội, Tôn Văn có con mắt thực tế và chiến lược, ông bung ra khỏi nước, chủ trương "đánh từ ngoài đánh vào" qua cuộc vận động đấu tranh ở hải ngoại gần 20 năm (Jacques Gernet, A history of Chinese civilisation (bản dịch từ Pháp văn do J.R. Fasten) - Cambridge Unv Press 1989, tr. 624).

Ông sớm chủ trương canh tân Trung quốc, từng nói một câu bất hủ với các đồng chí trong cuộc khởi nghĩa 1895: “Sóng triều thế giới đang cuồn cuộn chảy. Thuận dòng thì sống, ngược dòng thì chết"(tham khảo: Tôn Trung Sơn tuyển tập (thủ bút), ND xbx Bắc Kinh 1962).

Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông trốn qua Hồng Kông rồi lại qua Honolulu, có thể gọi là quê hương thứ hai của ông. Ông qua Mỹ vận động khối Hoa kiều hải ngoại, nơi tập trung đông đảo nhất vào lúc bấy giờ là Cựu Kim Sơn tức San Francisco. Tiên sinh lại qua cả London vận động Hoa kiều vẫn là lực lượng chính yếu mà ông đặc biệt tin tưởng với niềm tin rằng chỉ có hải ngoại mới đủ sức đưa cuộc cách mạng ở trong nước bùng lên. Ông bị mật vụ của nhà Mãn Thanh bắt cóc, nhốt trong đại sứ quán Trung Hoa. Nhờ có người thầy cũ là Bác sĩ Sir Edward Cantlie, là một nhà quí tộc nổi danh vận động chính phủ Anh nên ông mới được trả tự do (Dictionary of political biography - W&R; Chambers, London, 1991, tr. 224).
Sau nhiều tháng vận động liên tục, chủ yếu là nhắm vào khối Hoa kiều hải ngoại, nhất là người Hoa ở Đông Nam Á trong đó Hoa kiều ở Việt Nam được coi là đội ngũ tiên phong chủ lực.

Tiên sinh quyết tâm thực hiện cho bằng được cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ. Ông thấy rằng hành động cách mạng phải được chỉ đạo và soi sáng bởi tư tưởng. Do đó, lãnh vực tư tưởng đối với ông là vấn đề sống còn của vận mệnh cách mạng. Sau cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, ông lưu vong qua Mỹ và Âu châu, có dịp quan sát thể chế chính trị và xã hội kỹ nghệ Tây phương nhưng không khỏi thất vọng trước một Âu châu xã hội suy đồi, kinh tế thì khủng hoảng. Tiên sinh nhận thấy với tình trạng như thế, không thể làm cho quốc gia phú cường và dân quyền phát triển được và cũng không thể đưa nhân dân các nước đến hạnh phúc được (xem: Vương Học Hoa, Tư tưởng triết học Tôn Trung Sơn, HN 1962, tr. 13).

Tiên sinh cũng sớm ý thức được rằng không thể dựa vào các cường quốc Tây phương, muốn cứu nước và phục hưng dân tộc thì phải dựa vào chính mình. Vào hoàn cảnh lúc đó, trong nước thì bạo quyền kiểm soát chặt chẽ và sẵn sàng đàn áp các cuộc nổi dậy nên chỉ còn khối Hoa kiều hải ngoại là chủ lực chính. Đồng thời phải thống nhất các lực lượng chính trị thành một khối với đường lối và phương lược chung.

Tháng 7, 1905, Tôn Văn từ Âu châu qua Đông Kinh, Nhật Bản. Với người Hoa ở đây làm chủ lực, ông tổ chức đại hội ngày 20 tháng 8, 1905 trên cơ sở các tổ chức "Hưng Trung hội", "Hoa Trung hội", "Quang Phục" và các tổ chức cách mạng khác. Đại hội gồm 300 đại biêău, đa số là đại biểu Hoa kiều hải ngoại và đại biểu của 18 tỉnh trong nước, đã đi đến nhất trí thành lập một tổ chức thống nhất lấy tên là "Trung quốc cách mạng đồng minh hội", gọi tắt là Đồng Minh hội.
Đại hội thông qua cương lĩnh và chương trình hành động là "Đánh đuổi Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, bình quân địa quyền" do Tôn Văn khởi thảo (Vương Học Hoa, Tư tưởng triết học Tôn Trung Sơn, tr. 15). Đại hội bầu Tôn Văn làm Tổng lý và thành lập một tổng bộ, với hình thức như một chính quyền lưu vong do Tôn Văn cầm đầu, với ba bộ: bộ chấp hành, bộ bình nghị và bộ tư pháp, cử người đại diện chuyên trách các tỉnh ở trong nước, liên lạc với phong trào nhân dân trong nước, phát triển hội viên trong quần chúng người Hoa ở nước ngoài, vận động người Hoa đóng góp sức người, sức của cho quá trình hoạt động của hội. Hội cũng xuất bản tờ Dân Báo làm cơ quan tuyên truyền cho chủ nghĩa Tam Dân (Dân tộc - Dân quyền - Dân sinh) lấy khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" của cách mạng tư sản Pháp làm tinh thần duy nhất cho hoạt động của hội.

Tôn Văn soạn "cách mạng phương lược", qui định đường lối, phương cách và chiến lược thực hiện cuộc cách mạng, tiến hành theo ba thời kỳ: Quân pháp - Ước pháp - Hiến pháp. Giai đoạn cách mạng áp dụng quân pháp, giai đoạn cách mạng thành công trong lâm thời áp dụng ước pháp. Giai đoạn cuối cùng thành lập chế độ cộng hòa, ban hành hiến pháp.

Từ đây cuộc cách mạng lan rộng khắp thế giới Hoa kiều hải ngoại mà sau này Tôn Dật Tiên cho rằng Hoa kiều là người mẹ đã nuôi sống cách mạng Trung quốc. Ông tuyên dương "Hoa kiều vi cách mạng chi mẫu" (xem: Lý Trường Phó, Trung quốc thực dân sử, Thương vụ ấn thư quán xb, Đài Loan 1956, tr. 18 - Vương Học Hoa, Tư tưởng triết học Tôn Trung Sơn, tr. 18).

Với cương lĩnh của hội và phương lược cách mạng, Đồng Minh hội gây được tiếng vang lớn, dội về trong nước. Ở hải ngoại, hội phát triển rất mạnh. Honolulu là căn cứ địa đầu tiên của Trung Hưng hội trước đó, buổi đầu mới chỉ có 20 Hoa kiêàu tham gia, không bao lâu lan rộng khắp Hawaii và từ đây phát triển vào lục địa Mỹ. Cơ sở Đồng Minh hội mọc lên như nấm. Tôn Văn có lợi điểm là ông sống ở Honolulu từ năm 14 tuổi với người anh ruột là Tôn Đức Chương. Từ một cơ sở nhỏ buổi đầu ở Đàn Sơn Hương (Honolulu) đến trước ngày cách mạng bùng nổ, Đồng Minh hội đã phát triển được 879 chi hội trên khắp thế giới. Ở Á châu, chủ yếu là Đông Nam Á có 590 chi hội. Ở Mỹ có 189 chi hội. Ở Âu châu có 9 chi hội. Phi châu 40. Đại Dương châu 51 (Hoa kiều chí - Tổng chí - Đài Loan 1956, tr. 57 do ủy ban biên tập Hoa kiều thực hiện).

Hoa kiều ở Việt Nam đầu thế kỷ XX chưa phải là cộng đồng giàu có như ở các nước khác nhưng lại là căn cứ địa quan trọng nhâát của Đồng Minh hội, từ Hà Nội, Hải Phòng, Cao Bắc Lạng liên lạc thẳng về nước, tránh ngả Hồng Kông do Anh quốc kiểm soát rất nghiêm ngặt. Năm lần Tôn Văn đến Việt Nam. Ngày 21 tháng 6, 1900, ông đến Sài gòn lần đầu tiên để vận động người Pháp chi viện vũ khí cho nghĩa quân nhưng không thành công vì Pháp cho rằng việc bạo động ở Trung quốc sẽ liên quan đến các nước thuộc địa Đông Dương, có thể gây nguy hại cho Pháp nên đã chỉ thị cho Paul Doumer, Toàn quyền Đông Dương không được giúp Tôn Văn. Nhưng nhờ dịp này, ông đã kết nạp được một số Hoa kiều vào Đồng Minh hội. Tài chính là sinh mệnh của đại cuộc. Đồng Minh hội phát hành trái phiếu bán cho Hoa kiều. Sài gòn trở thành trung tâm trái phiếu.

Lần thứ ba ông đến Sài gòn vào tháng 10, 1909. Dưới sự chủ tọa của ông, phân hội Đồng Minh hội Sài gòn Chợ Lớn ra đời. Đây là phân hội đầu tiên ở Nam Hải. Từ Hoành Tân, Tôn Văn đã chuẩn bị sẵn sàng trái phiếu 1000 (tiền Trung quốc). Ông dự tính cố gắng thu hút hai triệu đồng do các nhà buôn Hoa kiều giàu có quyên góp với nguyên tắc mỗi trái phiếu 250 đồng thì đến ngày cách mạng thành công sẽ trả cả vốn lẫn lời là 1000 đồng.

Đến Sài gòn, ông họp với các đồng chí lập ra "Tổng cục Mộ trái Quảng Đông", lấy danh nghĩa là "Công ty dân vụ hương lợi Trung Hoa" để phát hành các trái phiếu vay tiền.

Ngày 11 tháng 12 mở đầu công tác phát hành trái phiếu. Đến Tết Nguyên đán đầu năm 1906 Tôn Trung Sơn lại ủy thác cho Phân hội Đồng Minh hội của Hoa kiều ở Sài gòn in thêm trái phiếu loại 100 đồng (Tôn Trung Sơn toàn tập, q. 1, tr. 287).

Chỉ trong một buổi chiều đã thu được 15,000 đồng, trong đó có thương gia góp 3,000 đồng (xem: Hoàng Tranh, viện KHXH Quảng Đông - Năm lần Tôn Trung Sơn đến Việt Nam - Nghiên cứu lịch sử số 6 (259) tháng 11&12, 1991, tr. 78). Đồng bạc Đông Dương hồi đó có giá nhất ở Á châu, một con trâu kéo cày vào thời ấy giá từ 3 đến 5 đồng.

Tháng 8, 1906, Tôn Văn lại đến Việt Nam lần thứ tư làm công tác tuyên truyền vận động cách mạng ở Sài Gòn, Chợ Lớn và lục tỉnh. Ông thường ở tại cửa hàng rau của một Hoa kiều, khi việc buôn bán gấp rút, ông giúp chủ nhà nhặt rau, phơi rau (Hồi ký của Lưu Hán Phiên, Tôn Trung Sơn tuyên truyền cách mạng trogn Hoa kiều ở Việt Nam, trích dẫn bài Hoàng Tranh, tlđd, NCLS số 6, 1991, tr. 86).
Năm Đinh Mùi 1907, Tôn Văn bị chính phủ Nhật trục xuất để làm vừa lòng triều đình Mãn Thanh. Tôn Trung Sơn đến Hà Nội. Tổng bộ Đồng Minh hội từ Tokyo rời về Việt Đông hội quán số 22 Hàng Buồm. Nhờ có cơ sở Hoa kiêàu giúp đỡ, Tôn Trung Sơn thiết lập một cơ quan chỉ huy của Đồng Minh hội tại số nhà 61 đường Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Ông cải tổ các phân hội Hưng Trung hội ở Hà Nội, Hải Phòng thành các phân hội Đồng Minh hội ở đây. Hội quán Hoa kiều Việt Đông ở Hà Nội, quán trà "Nhật Tân lâu" và xưởng làm diêm là những địa điểm của Đồng Minh hội.

Từ đây, Tổng hội Đồng Minh hội trực tiếp điều động và chỉ huy các cuộc khởi nghĩa ở vùng Hoa Nam và biên giới Việt Hoa. Ngày 1 tháng 9, 1907, khởi phát từ biên giới Việt Nam, nghĩa quân Đồng Minh hội theo lệnh của Tôn Trung Sơn phát động cuộc khởi nghĩa ở Phòng Thành, chiếm được thành, giết viên tri huyện, công bố "Thư gửi kiều bào ở nước ngoài", rồi đánh sang Khâm Châu. Nhưng vì thiếu lương thực phối hợp tại chỗ, không phá được thành, lại thiếu đạn dược, nên cuối cùng nghĩa quân bị quân Thanh đánh bại.

Sau vụ này, Tôn Trung Sơn phái Uông Tinh Vệ và một số cốt cán của Đồng Minh hội ở Hà Nội và Hải Phòng như Hoàng Long Sinh, Lưu Kỳ Sơn... đi Sài Gòn, Chợ Lớn, sang Singapore để vận động Hoa kiều "gấp rút thu xếp một khoản lớn để tiếp tế quân nhu cho nghĩa quân". Ai giúp đỡ cho cách mạng về sau sẽ được trả lại hậu hỉ. (Tôn Trung Sơn toàn tập, sđd, q. 1, tr. 346).

Do tài vận động của Tôn Văn, Hoa kiều nô nức đóng góp qua các phân hội từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định vào đến Đà Nẵng, Sài Gòn, Chợ lớn, Nam Kỳ lục tỉnh. Nhiều người Hoa mở hàng quán bán đậu phụ, rau giá, hoa quả để lấy tiền ủng hộ cách mạng. Có người rút cả tiền cổ phần trong ngân hàng Đông Dương, bán cả tài sản quí của mình để ủng hộ cách mạng (Tôn Trung Sơn tuyển tập, T. 1, ND xbx, Bắc Kinh 1962, tr. 179).

Cuộc khởi nghĩa ở Trấn Nam Quan bùng nổ vào tháng 12, ba tòa pháo đài được chiếm một cách thuận lợi. Bốn ngày sau, Tôn Trung Sơn và Hoàng Hưng, Hồ Hán Dân (người VN, cháu 8 đời vua Hồ Quý Ly) đưa theo 20 người từ Hà Nội sang Trấn Nam Quan. Ông leo lên pháo đài thăm hỏi các chiến sĩ, tự tay băng bó cho thương binh.

Nghĩa quan giữ Nam Quan được 7 ngày thì bị quân Thanh đánh bại, phải rút qua VN. Do áp lực của nhà Thanh, trung tuần tháng 3, 1908 Pháp trục xuất Tôn Văn. Ông phải rời khỏi VN. Cuộc khởi nghĩa Nam Quan, Tôn Văn nồng nhiệt, tri ơn "các đồng chí An Nam" đã kiên cường chiến đấu bên cạnh nghĩa quân cách mạng Trung quốc. Tôn Trung Sơn hứa rằng "Cách mạng Trung quốc thành công, cách mạng Việt Nam sẽ thành công".

Nhật Bản vì quyền lợi của mình đã trắng trợn phản bội Đồng Minh hội cũng như họ đã trắng trợn phản bội cách mạng Việt Nam, trục xuất Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Anh quốc không dung nên chỉ còn lại thành trì cách mạng ở VN thì Pháp lại phản bội nốt. Đúng như lời Tôn Trung Sơn nói: "Chỉ có thể tin vào mình". Nội thù mới là khủng khiếp. Những người cùng một chiến tuyến đâm sau lưng ông. Đó là các phe phái chủ trương canh tân, cải lương nhưng chống lại chế Cộng Hòa Dân Chủ, vẫn hợp tác với bạo quyền chuyên chế. Trước cao trào cách mạng lan rộng, tên tuổi Tôn Văn vang dội khắp nước, triều đình Mãn Thanh buộc phải công bố "Tuyên ngôn dự bị lập hiến" để xoa dịu công luận. Phái "cải lương hiến pháp" của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu có tổ chức của mình là "Đảng Bảo Hoàng" và "Đảng Lập Hiến" lên tiếng công kích cương lĩnh Dân chủ Cộng hòa của Đồng Minh hội. Cuộc luận chiến giữa phái cải lương và phái cách mạng lấy tờ Dân Báo làm trận địa tư tưởng (Thanh Đạm, Nền tư tưởng và bước thăng trầm của cách mạng Tân Hợi - Nghiên cứu lịch sử số 5, tháng 9&10, 1994, tr. 71).

Tôn Văn bị mai mỉa là "Tôn đại pháo", "ảo tưởng", "quá khích" và "mù quáng". Lương Khải Siêu tích cực chống lại Tôn, cho rằng "trình độ của nhân dân Trung Hoa hiện nay còn quá thấp kém chưa đủ để thực hiện chế độ dân chủ. Cộng Hòa không hay bằng Lập Hiến (xem: Trung quốc cận đại sử cương, ND xbx, Bắc Kinh, 1962, chương II (tiết 2, cách mệnh phái dữ cải lương phái đích luân chiến, tr. 318-325).

Chữa cái căn bệnh trầm trọng của một nước Trung Hoa đói nghèo, một nước Trung Hoa bị Tây phương phân thân, một nước Trung Hoa đầy nhục nhằn dưới bàn tay sắt của triều Mãn Thanh thì đệ nhất danh canh tânTrung Hoa, một mẫu mực lẫy lừng của sĩ phu Trung Hoa vào lúc bấy giờ là Lương Khải Siêu lại đối lập với Tôn Văn cũng chỉ đưa ra được đơn thuốc quá mơ hồ. Lương nói: "Xem học thuyết Âu Tây như ăn đồ cao lương. Xem học thuyết Tống Nho như đồ sơ thái. Muốn chữa cái bệnh gầy hao thì không gì bằng ăn đồ cao lương, muốn chữa cái bệnh béo rực thì không gì bằng ăn đồ sơ thái. Cứ lấy ý tiên sinh mà suy ra thì hai thứ bệnh đều nên chữa cả. Song cái bệnh gầy hao còn nguy hiểm vừa, cái bệnh béo rực lại nguy hiểm hơn". (xem: Tùng Văn, Bàn về nhân vật Lương Khải Siêu, Nam Phong tạp chí số 185, tháng 6, 1933, tr. 549).

Tôn Văn mới là nhà tư tưởng, một nhà lập thuyết và là "danh y" đã chữa căn bệnh nan y của Trung quốc bằng liều thuốc cách mạng. Với ông, chỉ có cách mạng bạo lực lật đổ bạo quyền tham nhũng, thối nát và chuyên chế mới có thể cứu nổi Trung quốc.

Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi thì chủ trương bất bạo động, canh tân và cải lương chế độ quân chủ hiện hữu thành một chế độ khai minh với ông vua khai minh. Tôn Dật Tiên phản đối lại, chủ trương chỉ có bạo động toàn dân nổi dậy mới lật đổ được bạo quyền, không có vấn đề bất bạo động trong đấu tranh cách mạng. Trung quốc cận đại sử cương chép rằng Tôn Trung Sơn quyết liệt chủ trương "chế độ Dân chủ Cộng hòa là giá trị chân chính của văn minh" (Trung quốc cận đại sử cương, ND xbx, Bắc Kinh 1962, tr. 317).

Cách mạng dân quốc trải qua 9 lần thất bại. Cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Cương bùng dậy ngày 24 tháng 4, 1911, 72 liệt sĩ hy sinh, một bản anh hùng ca vĩ đại của cách mạng dân quyền Trung quốc. Bảy tháng sau, Vũ Xương khởi nghĩa tháéng lợi, vang dội khắp nước và thế giới.

Ngày 10 tháng 10, 1911 Cách mạng Tân Hợi thành công. Từ tháng 10 đến tháng 11, Thượng Hải và 13 tỉnh cùng khắp các châu, huyêản nổi dậy giành chính quyền, tuyên bố độc lập. Ngày 25 tháng 12, 1911 ông mới từ hải ngoại về nước. Tôn Trung Sơn cải danh Trung Hoa Cách Mạng đảng thành Trung Quốc Quốc Dân Đảng và thành nền Cộng Hòa Dân Quốc. Do họa quân phiệt cát cứ và phản bội, do biến loạn hậu cách mạng nên mãi 10 năm sau mới tạm ổn định. Quốc Dân Đảng cho triệu tập "Phi thường quốc hội" tháng 4, 1921. Quốc hội bầu Tôn Trung Sơn làm Phi thường Đại Tổng thống (xem: Trung quốc cận đại sử cương, chương II, tr. 215).
Ngày 5 tháng 5, 1921, Tôn Dật Tiên, tổng thống tiên khởi của Trung Hoa Dân Quốc thành lập chính phủ mà Thống chế Tưởng Giới Thạch kế thừa sau khi Tôn tiên sinh qua đời. Tưởng Giới Thạch người Mân tức Mân Việt, Chiết Giang. Nối tiếp là Tưởng Kinh Quốc, cựu Đại tướng, Tổng thống đời thứ 3 Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Đài Loan, kế thừa họ Tưởng là Ts. Lý Đăng Huy, kiêm Chủ tịch QDĐ Trung Hoa lại là người Việt khách gia.

HÀ NHÂN VĂN
(3/10/2011)

Copyright © 2008 - All rights reserved.