bao the gioi


Chiếc Nhẫn Định Mệnh
Hoa-Hoàng-Lan


Tuấn đọc lại một lần nữa những dòng rao vặt, như không tin những gì mình đang đọc:
“Tìm một người đàn ông tù cải-tạo ở Long Thành cách đây 18 năm, đã gặp tôi bên bờ ruộng và gửi cho tôi một chiếc nhẫn, nhờ trao lại cho người vợ, nhưng tôi không tìm được bà ấy. Xin liên lạc điện thoại số (408) 123-4000. Rất mong.”
Tuấn thẫn thờ. Chẳng lẽ... Tuấn chờ thông tin này đã lâu và thầm mong gặp lại người thiếu-nữ trẻ đẹp mà anh đã gặp chiều nao, bên ngoài trại cải tạo15-NV ở Long Thành cách đây mười tám năm. Tuấn còn nghi ngờ, không biết có sự trùng hợp nào chăng? Chi tiết, thời gian, địa điểm thì đúng, nhưng còn những yếu tố khác. Tuấn nôn nóng cầm điện thoại và bấm những con số như rao vặt đã ghi. Chuông điện thoại reo nhiều hồi. Tuấn chờ đầu dây bên kia lên tiếng, chàng run giọng:
“Xin vui lòng cho tôi gặp người đã đăng rao vặt tìm người tù cải tạo trên nhật báo Việt Nam sáng nay?”

Bên kia, giọng một phụ nữ ngập ngừng:
“Xin lỗi, ông là ai?”
“Tôi là người cách đây mười tám năm, có gửi một cô gái mà tôi đã gặp bên ngoài trại cải tạo Long Thành một chiếc nhẫn về cho vợ tôi. Nay đọc báo thấy giống trường hợp tôi. Tôi muốn hỏi...”

Đầu máy bên kia, giọng phụ nữ cướp lời:
“Ông có thể cho biết thêm chi tiết về chiếc nhẫn ấy, chẳng hạn như kiểu cách của chiếc nhẫn và...”

Tuấn nói nhanh:
“Chiếc nhẫn của tôi có gắn một hột xoàn khá lớn và có khắc hai bên rìa nhẫn chữ T và V là tên Tuấn của tôi cùng Vân, tên của vợ tôi. Toàn nhẫn làm bằng vàng ta. Xin hỏi: Cô có phải là người đang giữ chiếc nhẫn?”

Giọng người phụ nữ vui vẻ:
“Chính tôi. Thế thì ông đích thị là chủ của chiếc nhẫn này rồi. Ông có muốn nhận lại nó không?”

Tuấn ngập ngừng:
“Nếu quả thật cô còn giữ được và nếu cô cho phép?”
“Ông vui lòng lấy giấy bút ghi địa chỉ của tôi. Chiều nay tôi có ở nhà. Ông có thể đến gặp tôi được không?”
Tuấn vội vã:
“Vâng. Cô vui lòng chờ cho một chút.”

Tuấn lật vội cuốn sổ trên bàn và chàng ghi chép đầy đủ số nhà, tên đường, rồi ra xe đi ngay, không chậm trễ một giây phút nào. Trên đường đi, Tuấn nôn nóng gặp lại ngưới con gái năm xưa hơn là tìm lại chiếc nhẫn, kỷ niệm một cuộc tình dang dở của hơn hai chục năm về trước. Ngày nay, người ấy đã đi xa khỏi tầm tay của Tuấn, và vật kỷ niệm ấy đang có hy vọng trở về cố chủ. Tuấn nhớ rất rõ ngày ấy, bên ngoài trại tập trung tù cải tạo ở Long Thành, tuyệt vọng trước sự bịp bợm láo khoét của quân cướp nước, với lời hứa hẹn trên giấy trắng mực đen là khóa tù chỉ kéo dài một tháng. Nay thời hạn một tháng đã qua, nhưng không ai được về cả. Lại có tin do chúng tung ra rằng trại có thể di chuyển ra Bắc.
Là một Chánh Án trẻ tuổi, Tuấn mới cưới vợ được sáu tháng, tình yêu đang nồng đượm hơn tất cả những gì trên cõi đời này, thì Cộng sản xua quân đánh chiếm khắp nơi. Mặt trận xẩy ra ngay trong thành phố. Tuấn vội cho vợ về Saigon tá túc tạm thời với cha mẹ nàng, phần chàng ở lại chờ lệnh di tản chung. Mặc cho những lời nhắn của Vân - vợ Tuấn - Tuấn vẫn hy-vọng ở một giải pháp trung lập cho thành phố Đà Nẵng, nơi Tuấn đang làm Chánh Án. Đùng một cái, tất cả lệnh tử thủ đã không kịp thi hành, lệnh di tản đã không kịp ban ra, một phần do sự bội tín của người bạn đồng minh Hoa Kỳ, một phần do hỏa lực nặng nề của Cộng quân. Tuấn hốt hoảng rời thành phố, khi phi trường Đà Nẵng đang bị những trận mưa pháo kích của Việt Cộng. Sau đó, thành phố bị bỏ ngỏ trước sự ngơ ngác của quân dân Vùng I Chiến Thuật. Bên tai Tuấn còn nghe lời văng tục, chửi thề của một quân nhân đi cùng chuyến bay với Tuấn:
“Có đánh “chó” đâu mà thua với thắng? Thằng Mỹ đểu thật! Bao nhiêu phi cơ đều hết mẹ nó xăng! Giá mà phi cơ bay bằng nước... đái được, thì dân chúng Đà Nẵng sẽ được bốc đi hết. Tụi nó chỉ chiếm được một thành phố không... người!”

Chuyến vận tải cơ C-130 ì ầm trên không trung, mang theo số người may mắn chạy thoát vùng lửa đạn, trong đó có Tuấn. Lim dim đôi mắt, Tuấn mơ màng nhớ về Vân, cô vợ trẻ mà lát nữa đây, chàng sẽ gặp. Nhất định phải bế Vân quay một vòng và tung Vân lên cao, để ăn mừng cú vượt thoát hi hữu của Tuấn. Đám nhân viên Tòa Án mà Tuấn mới gặp sáng nay, không biết có ai hiện diện trên chuyến phi cơ này. Tuấn đã kín đáo loan báo chuyến bay đêm nay cho vài người thân trong Tòa Án. Nhưng một mình thì dễ thoát thân, cứ nếu cứ quấn quýt lo cho vợ con, anh em, cha mẹ, thì chẳng thể nào leo lên phi cơ được. Dù đã được báo cho biết trước rằng đây có thể là một “chuyến đi bão táp”, nhưng Tuấn không thể nào hình dung được lại vất vả đến như thế. Vì chiếc vận tải cơ khổng lồ này không có đèn đóm gì hết, cũng không một chấm sáng quanh nó. Như một khối sắt đen sì trong đêm, mà động cơ đã mở, và những cánh quạt đang quay tít trong không khí, toát ra một hơi nóng kinh hồn. Người bạn làm việc ở Tòa Lãnh Sự Pháp đưa Tuấn ra đây, đã nói rành rọt với Tuấn rằng: nếu không muốn bị lọt vào tay Cộng sản, thì bằng mọi giá, đêm nay Tuấn phải có mặt trên chuyến bay này. Câu dặn dò này đã tăng thêm sức mạnh cho Tuấn, và sau này nghĩ lại, Tuấn còn cảm thấy ngượng ngùng, hối hận vì đã chen lấn với những người già cả, phụ nữ, để được đặt chân lên chuyến bay. Người ta chen nhau, xô đẩy nhau, và Tuấn cũng phải làm như thế để sống còn. Có những tiếng kêu, tiếng la của những người ngã xuống, nhưng chưa thể đứng dậy được, đã bị những lớp người sau tràn giẫm lên. Khi đã yên chỗ trong lòng phi cơ, Tuấn rùng mình, kinh hãi.

Cuộc trùng phùng của hai vợ chồng đã có những giọt nước mắt của Vân. Hình như gia đình Vân đã dự tính một cuộc di tản không có Tuấn, vì chàng nằm trong hạn tuổi thanh niên không được ra khỏi nước, theo lệnh của đương kim Tổng Thống lúc bấy giờ. Vân nghẹn ngào kể lại cho Tuấn nghe những dự định của cha mẹ nàng, một nhà xuất nhập cảng nổi tiếng và giầu có ở Saigon. Là một Chánh Án, Tuấn không có kinh nghiệm nhiều về chiến tranh, cũng như không hiểu biết nhiều về những lắt léo trong hậu trường chính trị của miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. Khi thấy ông Tổng Thống hô hào mọi người ở lại giữ nước, rồi lại biết chính ông bỏ nước chạy trước tiên, Tuấn thở dài ngao ngán cho vận nước đến hồi suy. Nước mất rồi, nhà sẽ tan theo thôi. Tuấn nghĩ đến thân phận của những nước nhược tiểu như Việt Nam, nằm trong quyền định đoạt của những siêu cường quốc của thế giới.

Tuấn hoang mang khi thấy gia đình Vân cũng đang quyết định số phận của vợ chồng chàng. Vân không nỡ bỏ chồng ở lại, nhưng cô con gái cưng của ông chủ xuất nhập cảng cũng không muốn xa cha mẹ, để cùng Tuấn kẹt lại dưới chế độ Cộng sản. Rồi gọng kềm quân địch xiết chặt thành phố Saigon, và lực bất tòng tâm, cả gia đình Vân đã không chạy kịp trước khi Cộng quân tiến vào thành phố.

Như bao người đã từng cộng-tác gắn bó với chế độ cũ, Tuấn cũng lên đường đi cải tạo dưới danh nghĩa “ngụy quyền” của chế độ cũ, “có nợ máu với nhân dân”, phải cải tạo tư tưởng! Tuấn đã bịn rịn chia tay cùng Vân, sau khi cùng gia đình hưởng một ngày Tết Đoan Ngọ hiếm có trong đời người: không biết ngày mai, cuộc đời sẽ ra sao?

Tuấn tìm nhà người thiếu nữ không khó, và khi bấm chuông, thì Tuấn ngây người trước một phụ nữ mà những nét đẹp ngày Tuấn trao gửi chiếc nhẫn đã không thay đổi với thời gian. Người phụ nữ mời Tuấn ngồi và nói ngay:
“Mười tám năm qua, trông ông... Ông gì nhỉ?

Tuấn mau mắn:
“Ồ, xin lỗi. Tôi tên Tuấn. Còn cô?”
“Tôi là Liên. Trông ông Tuấn không khác mấy. Chắc ông còn nhớ tôi?”

Tuấn đáp lời Liên bằng một cái cười đầy thiện cảm:
“Bây giờ thì nhớ, nhưng nếu bất chợt gặp ngoài đường thì không thể nhớ được, tuy cô không khác ngày xưa.”

Bằng một thái độ khoan thai, từ tốn, Liên hỏi:
“Ông bây giờ như thế nào? Bà nhà đâu? Sao không cùng đi nhận nhẫn với ông?”

Tuấn ngập ngừng:
“Chuyện dài lắm. Từ từ. Có dịp, tôi sẽ kể cô nghe.”

Liên mỉm cười, đưa một chiếc hộp đựng nữ trang nhỏ, mở ra cho Tuấn xem và vui vẻ:
“Ông biết không? Tôi phải giữ kỹ lắm đấy. Sang đây, tôi vẫn có ý tìm chủ để trả, nhưng ngặt vì không biết ông là ai. Tôi nhờ đăng rao vặt ở mấy nơi có đông người Việt như Santa Ana, San Jose và cả Texas nữa. May sao, ông lại ở đây.”

Trao chiếc nhẫn cho Tuấn rồi, không nén được tò mò, Liên hỏi:
“Sao hồi đó, ông lại đem nhẫn đi cải tạo, rồi lại gửi cho tôi? Chiếc nhẫn đắt tiền, ông không sợ mất à?”

Mân mê chiếc nhẫn trong tay, nhìn hai chữ T và V, Tuấn đáp:
“Chắc vợ tôi linh cảm sẽ chia tay rất lâu, nên đã lén may chiếc nhẫn vào nẹp mũ cho tôi đem đi theo khi đi tập trung cải tạo theo lệnh của tụi nó, ý để tôi có vật độ thân, khi cần. Nhưng thật khổ cho tôi phải giữ nó trong hoàn cảnh bị giam cầm. Tôi giữ kỹ cái mũ như một vật bất ly thân, vừa sợ mất một vật kỷ niệm, vừa lo tụi nó phát giác được, chắc tôi sẽ bị phiền phức ghê lắm, vì trước khi vào đây, tụi nó đã có lệnh bắt nộp hết những đồ vật quý giá như đồng hồ, vàng, nhẫn. Khi được tin chúng tôi có thể bị đưa ra Bắc, tôi thấy thân tù tội, chắc không thể nào giữ hoặc chi dùng chiếc nhẫn vào việc gì được, nên tôi thầm cầu mong có cơ hội nào đó, gửi trả về cho vợ tôi, để cô ấy cất giữ chắc hơn. Tôi viết rõ địa-chỉ vợ tôi, và gói với chiếc nhẫn, luôn luôn đem theo trong mình.

Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi được đưa đi lao động, Mới sáng tinh mơ, mà trên trên những hàng rào kẽm gai gần trại, chúng tôi đã thấy những cái bánh ú còn nóng, của những người dân đi làm ruộng sớm, lén treo đó cho chúng tôi, nhưng nào có ai dám thò tay lấy, dù bụng đói cồn cào. Trong khi mấy anh em bạn tù cùng bọn cai tù còn đang mải nhìn những xâu bánh ú treo lủng lẳng trên rào kẽm gai, thì tia mắt của tôi thoáng thấy cô lấp ló từ một bụi chuối gần đấy. Dù cải trang thành một người dân địa phương đi làm đồng sớm, và vai còn vác thêm cây cuốc, nhưng khi nhìn nước da trắng hồng, cùng khuôn mặt xinh đẹp của cô, tôi biết ngay cô có người nhà trong đám tù này, giả dạng nông dân để may ra có gặp được người nhà chăng. Cảnh này diễn ra hoài, bọn cai tù cũng quen mắt, nhưng không làm gì được. Chỉ tội nghiệp cho người thành phố, tưởng đánh lừa được chúng, nên cứ vài ngày lại gặp một người như thế. Tự nhiên, thấy vẻ ngây thơ của cô, tôi thấy tin tưởng hết sức, và cố ý đi chậm lại phía sau, ném nhanh chiếc mũ có giấu chiếc nhẫn về phía cô. Tôi thật yên tâm khi thấy cô đưa tay nhặt vội chiếc mũ, cuộn chặt vào mình, rồi rảo bước. Với địa chỉ ghi rõ ràng, tôi tin tưởng chiếc nhẫn sẽ được cô trao tận tay cho vợ tôi.”

Liên từ tốn tiếp lời:
“Biết tin ba tôi bị giam ở trại này, hôm đó, tôi đi cùng mẹ tôi đến đây thật sớm, vì biết mỗi sáng các ông đều bị dẫn đi qua đây. Tôi đang tuyệt vọng vì đoàn người sắp hết, mà không thấy được ba tôi, chợt thấy ông ném chiếc mũ về phía tôi. Tôi biết có chuyện, vội chụp mũ và vác cuốc đi thẳng, không dám nhìn lại. Để khỏi bị để ý, nếu cứ cầm mũ trong tay, tôi đội lên đầu, nhưng thấy cợm cợm một bên tóc. Tôi bóp gọn chiếc mũ trong tay, và nôn nóng ra về cùng mẹ tôi. Về nhà mở ra, tôi kinh ngạc thấy chiếc nhẫn hột xoàn sáng ngời, và hàng chữ ghi địa chỉ, cùng mấy lời dặn dò của ông. Tôi vội vã lấy xe đạp đi ngay đến nơi ông đã ghi. Trước ngôi nhà to lớn, có lính gác cửa, tôi đâm hoảng, nghĩ rằng trong lúc mất bình tĩnh, ông đã ghi lộn số nhà chăng? Tôi lân la hỏi thăm người bán thuốc lá lẻ gần đấy, thì được biết ngôi nhà này của một nhà giầu nổi tiếng ở đây, vừa xuống tầu vượt biên tháng trước, và hiện đã bị nhà nước tịch thu. Tôi thất vọng ra về, nhưng không cho ai biết chuyện chiếc nhẫn của ông gửi gấm, ngoài mẹ tôi ra. Tôi biết chiếc nhẫn rất đắt tiền, nên ông mới đánh liều gửi về, và chủ nhân của nó là một nhà giầu có của Saigon. Nhiều lúc tôi lo sợ, vì đang giữ trong tay một tài sản lớn. Những năm gia đình lâm vào cảnh túng quẫn, thú thật với ông, tôi phải tự tranh đấu với tôi để lòng tham không nổi lên. Nếu bán chiếc nhẫn của ông đi, thì gia đình tôi giải quyết được rất nhiều công việc, nhưng tôi sẽ ân hận suốt đời, vì đã làm một chuyện gian tà, kém ngay thẳng, phụ lòng tin cậy của ông, dù rằng tôi đã làm hết sức mình để trao tận tay người nhận, nhưng không được. Tôi đành quên chiếc nhẫn đi, và lo làm ăn kiếm sống với mẹ tôi, để tiếp tế cho ba tôi đang tù ở ngoài Bắc. Vài lần đi thăm ba tôi ở Hà Nam Ninh, tôi vẫn có ý tìm ông trong đám người tù, nhưng tuyệt nhiên không bao giờ gặp được. Tôi giữ chiếc nhẫn trong hoàn cảnh nghèo khó của gia đình, nhưng lương tâm tôi yên ổn biết bao.”

Tuấn ngậm ngùi:
“Tôi đâu có ai thăm nuôi nữa. Gia đình, họ hàng Vân đi gần hết, nên tôi đành chịu làm con bà Phước, tức là con... mồ côi, không có thân nhân tiếp tế. Hồi đó, giá cô cứ tùy tiện sử dụng chiếc nhẫn, thì có sao đâu. Nếu tôi giữ, trước sau gì cũng mất, lại bị vạ vào thân nữa. Đã vào tay cô, cô cố ý đưa cho vợ tôi, nhưng không được, như vậy nó đã là của cô. Túng thì phải tính chứ. Khi ấy, thì nó giúp được nhiều việc. Bây giờ, nó chỉ là một vật kỷ niệm, không hơn không kém.”

Liên buồn buồn:
“Tôi có nghĩ đến, ông ạ! Nhưng rồi tôi không dám. Kể ra, nhất điểm lương tâm tôi vẫn còn, dù cực khổ. Sau đó, ba tôi mất trong trại. Tôi không có cơ hội tìm kiếm ông nữa. Lo làm ăn, kiếm sống vô cùng chật vật, khó khăn, nhưng cũng quen đi, và câu chuyện của chiếc nhẫn như là chuyện của dĩ vãng. Nhiều lúc, tôi không nhớ nữa, dù tôi đã cất giấu rất kỹ với hy vọng một ngày nào đó, trao lại cho chủ của nó.”
“Cô sang đây năm nào?” Tuấn đột nhiên hỏi Liên.
“Hai năm rồi. Tôi và mẹ tôi đi Mỹ theo chương trình HO, vì có cha tôi chết trong trại tù. Chiếc nhẫn của ông, tôi đã mang theo trong ngày xuất cảnh. Không biết tại sao, tôi vẫn hy vọng có ngày nào đó, trao trả lại cho ông, để ông trao lại cho vợ của ông.”

Tuấn chua chát, cười buồn:
“Cô ấy đã có chồng khác, và hiện sống ở Thụy Sĩ. Tôi biết tin như thế. Lòng dạ con người ai mà biết được? Nhưng cũng tại hoàn cảnh nữa cô ạ! Năm đó, tôi cứu bố của Vân trong một vụ làm ăn, có thể bị tù. Để đền ơn, ông gả Vân cho tôi. Vân lấy tôi như một hành động đền ơn đáp nghĩa. Tình yêu chúng tôi chỉ đến sau hôn nhân, nên có thể không được bền chặt lắm. Đành chia tay nhau thôi. Tôi không trách Vân chút nào cả. Số mệnh. Biết sao được?”

Liên ái ngại:
“Ồ, xin lỗi ông. Tôi đã vô tình khơi lại chuyện buồn của ông. Thật không ngờ.”
“Chuyện đã lâu rồi, tôi cũng không còn nhớ nữa, và cũng không đủ sức để buồn nữa. Bên Mỹ này, có biết bao nhiêu chuyện để lo, biết bao điều để buồn. Nước mất rồi, còn chuyện nào buồn hơn nữa. Phải nguôi ngoai chuyện riêng đi mà sống chứ.”

Liên bạo dạn hỏi:
“Thế ông đã... làm lại cuộc đời với ai chưa?”
“Tôi nghĩ rằng cơ hội tốt chưa tới. Và nhất là tôi cảm thấy trong lòng còn trống trải lắm.”

Hai người nói chuyện hồi lâu, rồi Tuấn chào Liên ra về, sau khi xin phép Liên được thỉnh thoảng liên lạc với Liên. Liên vui vẻ bằng lòng và thầm ái ngại cho Tuấn.

Trên đường về, Tuấn chạnh lòng nhớ đến Vân bây giờ đang vui thú chồng con, có khi nào nghĩ đến Tuấn đang bên trời lận đận? Tuấn bỗng cảm thấy dửng dưng với chiếc nhẫn cưới và chàng lại miên man suy nghĩ đến Liên nhiều hơn. Tuấn vu vơ nghĩ rằng chàng trai nào hẳn tốt số lắm mới cưới được Liên Làm vợ. Mẫu người như Liên chắc chỉ sinh ra để làm vợ ngoan và mẹ hiền.

Sau một thời gian dài quen biết và thăm hỏi rất đều đặn của Tuấn với Liên, đến nỗi bà mẹ của Liên đã có một ước ao là một ngày nào đó, Tuấn sẽ là con rể của bà, để bà không phải ân hận rằng chính bà và người chồng bất hạnh đã là nguyên nhân sự muộn màng của Liên, cô con gái độc nhất của ông bà. Vì Liên hết chờ cha đi tù đã không có ngày về; rồi lại chờ ngày cùng mẹ lên đường sang Mỹ; rồi lại lo lắng, bảo bọc cho mẹ trước cuộc sống mới, nên chưa có một ngày nào Liên có dịp lo cho mình cả. Bà nhận thấy Tuấn không có điểm nào đáng chê, nên lòng thầm mong dịp vui tới. Biết đâu chuyện chiếc nhẫn đã là duyên là nợ giữa Tuấn và Liên. Tuấn đã may mắn chọn mặt gửi vàng, để bây giờ “châu về hiệp phố”. Và bà đã vui mừng, khi một ngày kia, Tuấn đã ấp úng ngỏ lời với Liên rằng:
“Anh dọn nhà. Bây giờ thuê chung phòng với một gia đình đông người, nên không tiện giữ chiếc nhẫn, e thất lạc thì phiền. Nếu không có gì trở ngại, anh nhờ Liên cất giữ giùm, như Liên đã từng cất giữ trong mười tám năm qua.”

Cười thật tươi, Liên nói:
“Anh đã nhờ, Liên thấy không có gì trở ngại khi giữ giúp anh.
Nhưng anh nhớ thường xuyên liên lạc mỗi khi thay đổi địa chỉ đấy nhá! Vì chắc Liên không thể đăng rao vặt tìm anh lần thứ... hai được nữa.”

Kể từ đấy, Tuấn thường lui tới thăm Liên nhiều hơn, và hai người đã có những sự tương đắc vừa đủ cho một tình bạn thân thiết. Và lâu thật lâu, có đến cả năm sau, bà mẹ vui thật vui khi tình cờ nghe được Tuấn bàn với Liên có nên đến tiệm vàng Kim Thành để nhờ tiệm thay đổi chữ V trên chiếc nhẫn thành chữ L là tên của Liên không? Nhưng Liên đã cười, khoe cả hàm răng trắng bóng và đều như những hạt bắp mà bảo Tuấn:
“Thôi anh à! Khỏi phải sửa. Cứ để nguyên đấy như một kỷ niệm. Chắc em sẽ mang chiếc nhẫn trơn khác thôi. Miễn sao trong lòng chúng mình, từ nay cho đến ngày nhắm mắt, lúc nào cũng chỉ có hai chữ Tuấn và Liên thôi nhé! Anh thấy không? Em đã giữ nó trong gần hai chục năm qua. Dù muốn dù không, định mệnh đã gắn liền cuộc đời em với nó trong một thời gian dài rồi. Em không muốn mình thay đổi nó.”
Liên âu yếm nhìn Tuấn đang đắm đuối nhìn nàng. Cả hai sung sướng không nói nên lời. Ngoài kia, vầng trăng Trung Thu sáng ngời, nhưng lại không sáng bằng niềm hạnh phúc đang rực rỡ, chói lòa trong lòng họ. Và trong hồn Tuấn, một mùa Thu bất tuyệt đang bắt đầu.

Hoa-Hoàng-Lan


Copyright © 2008 - All rights reserved.