bao the gioi


GỠ RỐI:16-07-2011

Anh Tư


QUAN ÂM THỊ KÍNH

Anh Tư thân mến:

Anh Tư nói, Quan âm Thị Kính là người Cao-ly (tức Hàn quốc, tức Triều tiên, tức Korea). Tuy nhiên mới đây tôi hỏi một ông sư (khoảng 45-50 tuổi) về quốc tịch của Quan âm Thị Kính. Ông sư trả lời: “Quan âm Thị Kính là người Việt Nam.” Tôi hỏi thêm: “Là người Việt-nam nhưng ở miền nào?”, ông sư nói: “Quan âm Thị Kính là người miền Bắc, dẫn chứng vở chèo Quan âm Thị Kính.”

Vậy, thưa Anh Tư. Anh Tư có biết quyển sách nào viết “Quan âm Thị Kính là người Cao Ly” hoặc người Việt Nam, xin Anh Tư chỉ hộ, tôi rất ngàn lần cảm ơn. (Thìn Bùi, Pom Pano Baech, FL)

Thìn Bùi thân mến:

Bảo Quan âm Thị Kính là người Việt Nam, miền Bắc, vì có vở chèo Quan âm Thị Kính, e giản dị quá. Miền Trung cũng có tuồng (hát bộ) Quan âm Thị Kính; miền Nam cũng có vở cải lương Nỗi oan Thị Kính! Có phải vì thế mà Quan Âm Thị Kính là người miền Trung hay miền Nam đâu! Chúng ta có rất nhiều vở tuồng, chèo, cải lương về loại “hương xa”, không cứ những nhân vật trong đó dều là người Việt cả!

Khi bảo Quan Âm Thị Kính là người Cao Ly, AT chỉ viết theo trí nhớ. Nay lục lại một số kinh sách, thấy ghi như sau:
- Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh, cuốn 2, trang 1294: “Bà Thị Kính vốn kiếp trước là đàn ông, tu hành sắp thành Phật. Ðức Thích Ca muốn thử lòng, bắt bà đầu thai vào nhà họ Mãng ở nước Cao Ly...”
- Bảng lược đồ văn học Việt Nam, của Thanh Lãng, quyển thượng, trang 606: “Thị Kính là người Cao Ly...”

- Tự điển thành ngữ điển tích của Diên Hương, trang 316: “Truyện đặt cho Thị Kính là người Cao Ly, kiếp trước là đàn ông tu hành đắc đạo sắp thành Phật...”
-
Nhân tiện, xin nói thêm. Hai chữ “Quan âm” bắt nguồn từ “Quán-thế-âm” (bồ tát), là người nghe hết các âm thanh của chúng sinh để cứu vớt họ. Người Viễn đông thờ đức Quán-thế-âm theo hình tượng phụ nữ, trong khi người Tây Tạng thờ ngài theo hình tượng nam giới, và là người bảo vệ nước Tây Tạng. Người Tây Tạng tin rằng đức Ðạt-lai Lạt-ma hiện tại là hiện thân của Bồ tát Quán-thế-âm.

Ðức Quán-thế-âm Tây Tạng có một gương mặt, 1000 cánh tay, 1000 mắt, 108 hồng danh (tên gọi).

Trong kinh Ðịa Tạng, phẩm 12, đức Phật khen đức Quán-thế-âm: “Ở thế giới ta bà này, nhà ngươi có nhân duyên lớn: hoặc thiên, hoặc long, hoặc nam, hoặc nữ, hoặc thần, hoặc quỉ, cho chí chúng sinh trong sáu nẻo...” Như vậy, đức Quán-thế-âm sống cùng thời với Phật Thích Ca.

Theo kinh Thủ lăng nghiêm, quyển 6: đức Quán-thế-âm Bồ tát sở trường phép tu Tam muội về căn tai. Ngài đắc đạo cách nay hằng hà sa số kiếp, tên là Quán-thế-âm. Trải qua các kiếp, ngài vẫn giữ tên là Quán-thế-âm.
Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm Ðà-la-ni: “Lực oai thần của Quán-thế-âm Bồ tát không có thế nào suy xét, bàn luận cho xiết. Hồi đời quá khứ, cách nay vô lượng kiếp, ngài đã thành Phật, hiệu là Chánh pháp Minh Như-lai. Vì nguyện lực đại bi, muốn giúp chúng sinh được an lạc, nên ngài hiện thân làm Bồ tát.”

Trong Phật học tự điển của Ðoàn Trung Còn (quyển 3, trang 830): “đức Quán-thế-âm đã hiện thân 33 lần, dưới 33 tên: Dương liễu Quấn-âm, Long đầu Quán-âm, v.v.”

Tại Việt Nam, Phật tử ở Lá Vằng (La-vang) Quảng Trị tin rằng đức Quán-thế-âm đã hiện xuống cứu độ chúng sinh, mang hình tượng một phụ nữ Việt Nam bồng con. Ðó cũng chính là Ðức Mẹ La Vang mà giáo dân thờ phượng.

Ngoài ra, ở miền Bắc Việt Nam có vị Quan-âm tên là Diệu Thiện, cũng không phải người Việt, mà là người nước Hưng Lâm, phía đông Thiên Trúc.

KHU ÐÈN ÐỎ, ÐỒNG BẠC, MIND YOUR OWN BISINESS

Anh Tư thân mến:
Tại sao những khu “giải-trí” không lành mạnh của các ông, bên Á-đông ta dùng chữ “lầu xanh” mà tên Tây phương lại dùng chữ “đèn đỏ” (red light district?). Tại sao có sự đối xứng như vậy: bên đông bên tây, bên xanh bên đỏ?

Ở châu Âu ngày xưa, có phải đơn vị tiền tệ là “bit”? Tôi đọc sách cổ, thấy nói, món hàng ấy trị giá 2 bits. Là bao nhiêu?

Câu nói thông thường ở Mỹ: “Mind your own business” xuất phát từ đâu? (Trần Văn Tá, Cali.)

Ông Trần Văn Tá thân mến:
1) Theo ông tây B. Lowatt, dân Âu quen gọi là “khu đèn đỏ”, vì ngày xưa, các ông tây nhà ga thường kiêm luôn nghề đưa rước khách làng chơi. Các ông dùng chính cái đèn hành nghề phu trạm, làm đèn đi đường, và treo nó ngay trước nhà các “em” để làm dấu hiệu. Lâu dần, các xóm này tự sắm lấy đèn đỏ mà treo, các ông ham vui nhìn màu đèn đều hiểu đấy là đâu!
2)
Màu “đỏ” này thực sự cũng thông dụng bên đông chúng ta. Ngoài chữ “lầu xanh”, các cụ ta còn có chữ “lầu hồng”, với ý nghĩa tương tự. Ngày nay, ở Hương cảng, các “lầu hồng” không sơn màu hồng, mà dùng ám hiệu: chữ đỏ (lại đỏ) trên nền bảng vàng. Dù bảng quảng cáo bất cứ thứ gì khác: “tiệm sách”, “quán nước”, “giặt ủi”, “cho thuê phim”,.. nhưng nếu là bảng vàng chữ đỏ, thì phần lớn, đúng là chỗ các “em”! (Suỵt... Ðừng kể với ai là AT nói, nghe!)

2) Thời cổ ở châu Âu, đơn vị tiền tệ không phải “bit” mà là “đồng bạc” (tiền Tây ban nha), đúc bằng bạc. Vì đồng tiền này to quá, lại hiếm, người ta ... cưa nó ra làm 8 phần đều nhau, mỗi phần là 1 bit. Món hàng ông hỏi, 2 bits, tức là phần tư đồng bạc.

3) Câu “Mind Your Own Business” (hãy chú tâm vào chuyện của bạn; nghĩa bóng: đừng xía vào chuyện người khác), phản ảnh chủ trương “bất can thiệp”của người Mỹ. Câu này từng được dùng làm tiêu ngữ (motto) của nước Mỹ, in trên tờ giấy bạc.

TRÂU BÒ VÀ MÀU SẮC
Anh Tư thân mến:

1) Hồi còn nhỏ ở quê nhà, ông bà ta thường dặn, khi mặc quần áo trắng, đừng đến gần trâu, sợ nó dùng sừng chém chết. Có phải vì trâu ghét màu trắng?
Xem đấu bò, thấy các tay đấu bò mặc áo choàng màu đỏ, và dùng nó để nhử bò. Có phải vì bò ghét màu đỏ?

2) Tôi trồng được cây bưởi hơn 20 năm nay, quí nó lắm, chỉ sợ nó chết! Làm sao biết được cây chết ở tuổi nào?

3) Câu này tôi biết, chỉ hỏi đố AT chơi: trong tiếng Anh, có bao nhiêu chữ bắt đầu và tận cùng bằng “und”? Chữ nào chiếm hơn phân nửa tổng số mẫu tự và không lặp lại bất cứ mẫu tự nào? Chữ dài nhất mà bác có thể dùng những nút trên hàng nhì bàn chữ (keyboard) máy điện toán để đánh, là chữ gì? (Lê Thị Hai, D.C.)

Bà Lê Thị Hai thân mến:

1) Trâu bò không phân biệt được màu sắc. Quần áo trắng phản chiếu ánh sáng rất mạnh làm trâu khó chịu, nên ghét. Vả chăng, người mặc quần áo trắng, thường bao giờ cũng là “người lạ” đối với trâu, dù là ông bà chủ thực sự của nó! Nông dân, mục đồng bao giờ cũng đen đúa vì nắng gió và mặc quần áo màu đậm.
Bò rừng (bull) cũng không phân biệt được màu sắc. Nó chỉ nhìn thấy tấm vải phơ phất trước mặt mà húc tới. Màu đỏ, cốt để gây cảm giác mạnh và để bắt mắt khán giả, không phải vì bò.

2) Cây cối không chết vì già, mà chết vì bệnh, giông bão làm trốc gốc hay bị đốn. Ở Cali từng có cây redwood sống tới 40 thế kỷ. Ông quí cây, nên chăm trỉa lá, xịt thuốc trừ sâu và diệt các loài côn trùng đục phá rể, truyền bệnh cho cây. Khi cây bị thương tích, phải dùng loại nhựa do nhà vườn bán, để trám miệng vết thương lại, tránh côn trùng xâm nhập và truyền bệnh. Khi sắp có những cơn bão lớn, buộc cây cho chặt để khỏi tróc gốc; nếu cần thì cắt bớt cành lá (cắt xong, nhớ bôi nhựa).

3) Chữ bắt đầu và tận cùng bằng und, là “underground”, và chỉ một thôi, không có chữ thứ hai như vậy trong tiếng Anh. Chữ chiếm hơn phân nửa tổng số mẫu tự là: “uncopyrightable”. Chữ dài nhất với những mẫu tự trên hàng nhì của keyboard (q-w-e-r-t-y-u-i-o-p) có thể ráp được, là “typewriter”.
Lần sau, xin đừng đố nữa. AT nhức đầu ... đủ rồi!

LÃNH HẢI
Anh Tư thân mến:
1) Hồi thế-kỷ 19, lãnh hải của một nước được tính là 3 dặm (4,80 cây số) kể từ đất liền . Tại sao lại quá ngắn như thế?
2) “Moron” và “idiot” trong tiếng Anh đều có nghĩa là ngốc; nhưng tiếng nào “ngốc” hơn tiếng nào?
3) Trong tiếng Anh, “to shade” và “to tint” có đồng nghĩa với nhau không? (Lê Thị Hoa, Arlington)

Bà Lê Thị Hoa thân mến:

1) Ba dặm là tầm tối đa của đạn đại bác thời đó. Ngoài ba dặm, tàu biển không thể tấn công được. Khi tới gần trong vòng ba dặm, bị coi như là “có ý định tấn công”.
2) Anh ngốc (moron) thông minh gấp đôi anh đần (idiot).
3) Về công dụng, thì đồng nghĩa: làm đổi sắc đậm nhạt của một vật thể.
Về hội hoạ, thì trái nghĩa:
- to shade: thêm màu đen vào.
- to tint: thêm màu trắng vào.

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG MỸ

Anh Tư thân mến:

Nhiều người bảo tôi, tiếng Mỹ xuất phát từ tiếng Anh, nhưng lại đổi nghĩa rất nhiều, có đúng không? (Phạm Thị Ðào, Dallas)

Bà Phạm Thị Ðào thân mến:
Tiếng Mỹ chính là tiếng Anh... di cư. Sang đất mới lập nghiệp, giao tiếp với tiếng Pháp, Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha, nó đổi nghĩa khá nhiều.

Sau đây là một vài thí dụ, khi du lịch bên Anh (và cả Tân tây-lan, Úc), bà nên ghi nhớ (riêng Canada, nghiêng về Mỹ nhiều hơn Anh).

- Thang máy, Mỹ và Canada: elevator; Anh: lift.
- Kính xe hơi: windshield / windscreen (tiếng Mỹ và Canada là “chắn gió”; tiếng Anh là “lưới gió”)
- Nắp máy xe hơi: car hood / bonnet.
- Giờ nghỉ: coffee break / elevenses.
- Bi-da lỗ: sneakers / plimsolls.
- Tiệm bán đồ sắt: hardware store / ironmonger.
- Ði cầu: go to the bathroom / spend a penny.
- Phòng vệ sinh: restroom (Mỹ); washroom (Canada); toilet (Anh).
- Món tráng miệng: dessert / afters.
- Chi phiếu: check (Mỹ); cheque (Anh, Canada). ■

Copyright © 2008 - All rights reserved.