bao the gioi


VIỆT NAM: KINH TẾ LÂM NGUY
Phạm Trần

Ðảng Báo động Thất nghiệp Tăng cao 3 Triệu năm 2009


Hoa Thịnh Ðốn.- “Trái với những tuyên bố ban đầu rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng ít tới Việt Nam, giờ đây Chính phủ đã có những hành động và quyết sách thể hiện sự nhận thức về tình hình thị trường kinh tế diễn biến phức tạp. Như vậy là rất đáng hoan nghênh.”

Ðó là phê bình của Kinh tế gia có đầu óc thực tế hàng đầu của Việt Nam, Tiến sỷ Lê Ðăng Doanh, trong cuộc phỏng vấn của Hương Lan đăng trên Báo Tuần Việt Nam ngày 19-12-2008.

Nhưng thời gian có nhiều “quan chức” đảng lạc quan tếu như thế sau khi nền kinh tế Mỹ đã bắt đầu nếm mùi khủng hỏang tài chính từ tháng 2 có phải là một dự đoán khôn ngoan, hay vì không biết nên cứ nói bừa để bây giờ giẫy không kịp ?

Năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm soát lạm phát đe dọa có thể lên tới 30%, trong đó có các biện pháp gỉam chi, đình chỉ nhiều kế họach xây dựng cơ bản từng gây lãng phí công qũy đã cạn kiệt.

Ngày 18/12/2008, đảng Cộng sản Việt Nam khoe trên báo Ðiện tử của mình : “ Lạm phát đã được đẩy lùi, kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ ổn định, an sinh xã hội được đảm bảo, giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Ðể đạt được kết quả đó là nhờ vào chủ trương đúng đắn và sự thống nhất cao trong lãnh đạo của Ðảng, sự điều hành quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn nhân dân.”

Tại cuộc họp của Chính phủ hồi tháng 11, Nhà nước vẫn cương lên : “ Trong tháng 10 tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan rộng đến các nền kinh tế lớn và đang có xu hướng lan rộng sang các nước đang phát triển. Ðối với nước ta, những tác động của kinh tế thế giới chưa bị ảnh hưởng nhiều, do đó các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tháng 10 có những chuyển biến tích cực như: Lạm phát bước đầu đã được kiềm chế, giá tháng 10 giảm 0,19% so với tháng 9; thu hút vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng; hoạt động dịch vụ diễn ra sôi động; thu ngân sách đạt khá, một số lĩnh vực xã hội có chuyển biến tích cực. Cụ thể, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 ước đạt 55,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước; cả nước đã thu hoạch được 2.228,7 nghìn ha lúa hè thu, tăng 16,7%; khách du lịch quốc tế tăng 3,5%; kim ngạch xuất khẩu đạt 5.100 triệu USD giảm 3,3% và nhập khẩu đạt 5.800 triệu USD tăng 5,2% so với tháng USD; vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tăng 38,3%...”

Nhưng thực tế không lạc quan đến như thế, bởi vì mới hồi tháng 5, nhiều Ðại biểu Quốc hội đã chỉ trích nhà nước chi tiêu vô tội vạ làm cho tình trạng lạm phát tăng mau làm khổ dân.

Báo Tuổi Trẻ ngày 06/05 (2008 ) viết : “ Trong hội thảo về bội chi ngân sách do Ủy ban Tài chính - ngân sách Quốc hội tổ chức ngày 5-5, các chuyên gia kinh tế cho rằng việc Chính phủ chi tiêu quá mức là một yếu tố gây lạm phát và cần được cắt giảm. Chính phủ đã chi tiêu vượt quá mức tiền thu vào tới 6,6% GDP, không phải ở mức 5% như Quốc hội cho phép, theo cách tính của Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF).”

Bài báo của Trần Lê Thùy viết tiếp : “ Nguyên nhân của lạm phát cao có một phần quan trọng của chính sách tài khóa lỏng lẻo trong những năm qua, thể hiện ở bội chi ngân sách tăng liên tục qua các năm” - tiến sĩ Lê Quốc Lý, vụ trưởng Vụ Tài chính tiền tệ (Bộ Kế hoạch - đầu tư), cho biết tốc độ tăng bội chi ngân sách trong tám năm trở lại đây giữ ở mức cao 17-18%/năm. Bộ Kế hoạch - đầu tư nói lạm phát có một phần đóng góp của bội chi ngân sách. Năm 2001, chi ngân sách 26,5% GDP, đến nay xấp xỉ 40%, tăng rất cao.”

“Ông Lý nhấn mạnh: “Vấn đề đặt ra hiện nay là việc rà soát, cắt giảm chi tiêu ngân sách nhà nước chưa cần bằng việc đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư kém hiệu quả”.

Trong khi đó nhiều ngàn công nhân, đa số từ nông thôn ra thành phố làm việc, đã rủ nhau hồi hương, dù chưa biết phải làm gì, sau khi nhiều công ty nước ngoài làm ăn thua lỗ đã không thể tăng lương cho công nhân. Trong khi vật giá cứ tiếp tục leo thang vào những tháng cuối năm và giá thuê nhà, tiền cơm cũng tăng làm cho nhiều công nhân cho biết họ làm không đủ nuôi thân mà còn gánh thêm nhiều món nợ nên đành khăn gói hồi cư.

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lực lượng lao động cả nước khoảng trên 47 triệu người. Nhưng số người có nghề chuyên môn vẫn thiếu nên mức thất nghiệp vẫn còn cao.

Theo Nguyễn Ðại Ðồng, Cục trưởng việc làm của Bộ này thì số người thất nghiệp của Việt Nam năm 2009 sẽ tăng vào khỏang 3 triệu do ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xuống dốc.

Vậy số lao động hy vọng được xuất khẩu có khá hơn đồng nghiệp trong nước không ?

Lý Hà trả lời trên Thời báo Kinh tế ngày 18-12 (2008): “Các thị trường xuất khẩu lao động chính của Việt Nam hiện đều gặp khó khăn. Vậy chỉ tiêu 90.000 lao động xuất khẩu trong năm 2009 do Quốc hội giao liệu có thực hiện được?

Trả lời câu hỏi này, Thứ trưởng Bộ Lao động ố Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa nói:

- Tình hình chắc chắn có khó khăn, nhưng ta có thuận lợi là có rất nhiều thị trường (hiện ta có khoảng 500.000 lao động làm việc ở trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ). Nếu quyết tâm thì ta vẫn hoàn thành mục tiêu xuất khẩu 90.000 lao động của năm 2009.”

“ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nên xuất khẩu lao động của Việt Nam năm nay cũng bị tác động. Ðơn hàng mới tại nhiều thị trường giảm đáng kể. Các thị trường thu hút nhiều lao động thu nhập cao như Hàn Quốc, Malaysia, tốc độ tiếp nhận lao động Việt Nam nói riêng và lao động các nước nói chung là chậm hẳn.”

Bài báo cũng cho biết: “ Năm 2008, cả nước giải quyết việc làm cho 1,35 triệu lao động, trong đó thông qua các chương trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động 85.000. 4 thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm của Việt Nam là: Ðài Loan (33.000), Hàn Quốc (16.000), Malaysia (7.800) và Nhật Bản (5.800).”

Trước bối cảnh lao động trong và ngoài nước bấp bênh vì ảnh hưởng suy thóai kinh tế tòan cầu, đảng CSVN nhìn nhận : “Trong những tháng gần đây, tình hình kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta, làm cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm sút, ảnh hưởng đến việc làm và đời sống nhân dân.”






á
NGUY CƠ NGẬP ÐẦU

Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Kế hoạch và Ðầu tư viết trên Tạp chí Công sản Số 24 (168) năm 2008 : “ Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã và sẽ ảnh hưởng đến một số hoạt động của kinh tế nước ta, nhưng mức độ tác động không lớn như các nước đang phát triển khác.”

Riêng trong lĩnh vực thương mại, Phúc cho rằng : “Cuộc khủng hoảng đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Mỹ, Nhật Bản và châu Âu. Ðây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

Ngay từ những tháng đầu năm 2008, đã xuất hiện xu hướng giảm tốc độ xuất khẩu sang Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Do cầu tiêu dùng tại Mỹ đang trên đà suy giảm mạnh bởi tác động của khủng hoảng tài chính, trong 9 tháng đầu năm, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, thấp hơn khá nhiều so với mức 26,7% của năm 2007. Tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã giảm, từ 20,7% của năm 2007 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm nay. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng nhất là may mặc, giày da, gạo, cá basa, cà phê...

Cuộc khủng hoảng cũng tác động đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Erope Union (Liên hiệp Châu Aạu) và Nhật Bản - hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Phân tích của các chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu hướng giảm. Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5%, trong khi năm 2007 là 18%.”

Theo ước tính của Phúc: “Xuất khẩu cả năm 2008 dự kiến chỉ đạt khoảng 64 tỉ USD, tăng 31,8% so với thực hiện năm 2007, thấp hơn so với dự báo của Chính phủ vào đầu tháng 10-2008 cả về kim ngạch và tốc độ tăng (tương ứng là 65 tỉ USD và 33,9%) do xuất khẩu giảm không chỉ về số lượng các đơn hàng, mà cả về giá bán của hàng hóa xuất khẩu. Năm 2009, dự kiến kim ngạch xuất khẩu là 64 tỉ USD, giảm cả về kim ngạch và tốc độ tăng kim ngạch so với con số đã được trình Quốc hội đầu tháng 10-2008 (số trình Quốc hội tháng 10-2008 tương ứng là 67,7 tỉ USD và 18%).”

Về khả năng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam trước bối cảnh kinh tế xuống dốc leo thang từ nước này qua nước khác, Phúc bi quan : “ Tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu. Trong những năm tới, dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam sẽ suy giảm, vì do bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu.”

Về ngắn hạn, khủng hoảng ở Mỹ chưa có tác động lớn đến Việt Nam do dòng vốn đầu tư vào Việt Nam hầu hết bắt nguồn từ các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Xin-ga-po, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan,... Mỹ chỉ đứng thứ 11 trong hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với 419 dự án còn hiệu lực, tổng số vốn đăng ký 4,1 tỉ USD.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã không chỉ dừng lại ở Mỹ mà đã lan sang các nước phát triển khác, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Các nước châu Á, nơi chiếm tới 80% dòng vốn đầu tư vào Việt Nam, cũng đang chịu tác động lớn của cuộc khủng hoảng. Việc huy động vốn trên thế giới sẽ gặp nhiều khó khăn do chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn. Hậu quả là các nhà đầu tư sẽ hạn chế tăng thêm đầu tư mới và thực hiện các dự án đã cam kết. Ðã có xu hướng một số công ty mẹ ở chính quốc yêu cầu các chi nhánh tại Việt Nam phải giảm đầu tư để rút vốn về để tháo gỡ khó khăn cho các công ty mẹ. Do vậy, trong dài hạn, nếu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới không bị chặn lại thì chắc chắn nó sẽ tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.”

Lời báo động này sẽ có tác động rất lớn đối với nền kinh tế đang trên đà suy thoái của CSVN. Việt Nam cũng sẽ bị mất thêm một phần lớn trong mối lợi kiều hối từ 3.5 đến 4.5 tỷ dollars vẫn thu về hàng năm mà không phải bỏ ra đồng vốn nào. Khỏan tiền này do người Việt tị nạn gửi về cho thân nhân và bạn bè trong nước vào dịp Tết Nguyên Ðán, nhưng nền kinh tế tại các nước có đông người Việt định cư như Mỹ, Âu Châu, Úc đang lâm nguy đã ảnh hưởng đến mức thu nhập của họ.

Ngòai ra theo thống kê của nhà nước Việt Nam, hàng năm tổng số tiền lao động ở nước ngoài gửi về nước khoảng từ 1,6 đến 2 tỉ USD.

Như vậy xem ra tình hình kinh tế của Việt Nam vào dịp cuối năm không mấy sáng sủa, nhưng Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng chính phủ lại vừa tính tung ra món hàng “kích cầu” 6 tỷ Mỹ kim để cứu nguy.

Báo Ðiện tử Trung ướng đảng viết ngày 20-12 (2008) : “ Vấn đề kích cầu, cụ thể hơn nữa, việc Chính phủ đổ thêm 100.000 tỷ đồng (tương đương 6 tỷ USD) vào cho các mục tiêu kích cầu đang là vấn đề thời sự nóng bỏng từ các cơ quan điều hành kinh tế vĩ mô tới các doanh nghiệp, từng người dân.

6 tỷ USD so với hàng trăm tỷ USD các nước công nghiệp phát triển đổ vào để cứu vãn nền kinh tế khỏi khủng hoảng quả là rất nhỏ, ngay với trong nước, nó cũng chỉ bằng 1/7 tổng vốn đầu tư cả năm nay nhưng nếu giải ngân nhanh, giải ngân đúng chỗ thì chỉ với 6 tỷ USD có thể cứu vãn được nền kinh tế đang trong cơn oi bức trước dông bão.

Ðến bây giờ, khó có ai còn nghi ngờ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang ngày càng ảnh hưởng đến nước ta. Xuất khẩu chậm lại, du lịch vắng khách, gíá dầu thô giảm nhanh chóng, các nguồn vốn đầu từ trực tiếp và gián tiếp ngày càng thắt chặt hơn là những dấu hiệu rấ đáng quan tâm. Không chỉ kinh tế đối ngoại, kinh tế trong nước cũng đang đứng trước nhiều bất ổn. Giá tiêu dùng 2 tháng qua giảm mạnh nhưng lượng người mua không tăng. Nhiều doanh nghiệp thiếu vốn, thiếu đầu ra trong khi sức ép giá lao động, sức ép giá đầu vào nặng nề nhưng vẫn phải sản xuất cầm chừng mặc dù đình đốn thậm chí đứng trước bờ vực phá sản. Ðồng thời với nguy cơ lạm phát, nguy cơ trì trệ, đình đốn cũng đang rõ dần. Trước tình hình đó, hạn chế lạm phát đồng thời với kích cầu, vượt ra khỏi nguy cơ trì trệ là một giải pháp đúng.”

Ðó là quan điểm “mèo khen mèo dài đuôi” của đám gà nhà đang đua nhau công kênh chiếc đũa thần vạn năng này. Nhiều chuyên gia kinh tế trong nước cảnh báo rằng : Nếu không biết làm hay không minh bạch thì không chừng tiền nhà nước in ra lại đổ vào các doanh nghiệp nhà nước để nuôi bọn tham nhũng.

Một trong những người này là Tiến sỹ kinh tế Lê Ðăng Doanh đã cảnh giác đảng phải tránh “đừng đổ nước vào chỗ trũng”. -/-

Phạm Trần
(12/08)

Copyright © 2008 - All rights reserved.