bao the gioi


Nixon và Việt Nam - Phần 3
(Tiếp theo và hết)

Trọng Đạt


Từ cuộc hành quân Kampuchia năm 1970, Quốc hội Mỹ cấm hành quân qua Miên, cấm huấn luyện quân đội Miên, hạn chế tối đa viện trợ quân sự, Nixon chỉ còn cách oanh tạc Khmer đỏ để cứu Lon Nol.

Những người chống đối đòi chính phủ cử người đi đàm phán, dùng ngọai giao hòa bình không dùng quân sự. Thượng nghị sĩ Ted Kennedy đề nghị chính phủ cử các nhà ngọai giao tới Đông Dương thương thuyết thay vì cử B-52 nhưng trên thực tế không thể dùng ngọai giao được vì Khmer đỏ cũng như BV chỉ tấn công mà không chịu thương thuyết, ta chỉ có thể oanh tạc chúng được thôi. Nixon cho rằng các nhà dân cử phản chiến ngu đần ngây thơ không biết rằng chính sách ngọai giao không thể thiếu sức mạnh để hậu thuẫn nó. Ngọai giao vô hiệu quả trừ khi được kết hợp với áp lực quân sự, nhưng ông không thể nào thuyết phục Quôc hội về sự kiện này.

Chính phủ cần tiền để tiếp tục oanh tạc Khmer đỏ, Quốc hội từ chối và còn bắt đầu soạn tu chính án cấm dùng mọi ngân khoản cho các cuộc oanh tạc. Nỗ lực của chính phủ để ngăn chận sự chống đối của nhóm phản chiến tại Quốc hội thất bại tháng 6 -1973. Khi tu chính án đưa lên bàn Tổng thống ngày 27-6-1973, Nixon phủ quyết, ông cho biết tu chính án có thể phá hỏng mọi nỗ lực hòa bình tại Cam Bốt và sự rút quân của CSBV theo Hiệp định ngày 27-1-1973, nhóm phản chiến tại quốc hội chống đối Nixon.

Thượng nghị sĩ Mansfield cảnh cáo Tổng thống nếu không ngưng ném bom họ sẽ cắt các ngân khoản điều hành của chính phủ, Tổng thống sẽ chịu trách nhiệm. Những người ủng hộ Tổng thống đề nghị ông nên ấn dịnh ngày nào ngưng ném bom, Nixon đồng ý và ấn định 45 ngày và ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự tại Miên, Lào, Bắc và Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.

Sự thất bại này khiến Nixon không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN và cho phép lãnh đạo Hà Nội tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến, Tổng thống có quyền gửi quân tham chiến 60 ngày không cần hỏi ý kiến Quốc hội và thêm 30 ngày nếu không xác nhận bằng văn thư sự cần thiết bảo đảm an ninh cho quân ta.

Ngày 24-10-1973 Nixon phủ nhận War Power act cho rằng nó vi phạm Hiến pháp xâm lấn quyền Tổng thống. Ngày 7-11-1973 Quốc hội lại phủ quyết bác bỏ phủ quyết của Nixon, như thế Hà Nội được yên tâm chuyển quân vào xâm lăng VNCH mà không bị Mỹ oanh tạc trả đũa.

Có hai lý do khiến Quốc hội xâm lấn chính sách của Tổng thống đó là cuộc chiến VN và vụ Watergate tháng 4-1973, vụ Watergate kế tiếp chiến tranh VN với những sự chỉ trích, chống đối hành pháp dữ dội khiến một số viên chức chính phủ phải xin nghỉ. Watergate đúng là sự ám ảnh của Hoa Thịnh Đốn, nó khiến chính phủ phải mất thời giờ quan tâm không giải quyết được các lãnh vực khác. Một mình Watergate không đủ sức phá bỏ khả năng bảo vệ Hiệp định Paris của Tổng thống. Những khó khăn của chính phủ tại Quốc hội bắt nguồn từ phong trào phản chiến, nó chuẩn bị cho Watergate. Nixon tưởng rằng đem quân về nước, phục hồi hòa bình người ta sẽ thôi chống đối nhưng trái lại đám phản chiến vẫn gia tăng chống đối.

Trong khi còn chiến tranh, nhóm Bồ câu không dám cắt quân viện vì sợ bỏ rơi quân ta tại chiến trường. Mới đầu nhóm Diều hâu ủng hộ chính phủ nhưng không được lâu dài, khi chiến tranh không được dân ủng hộ, Diều hâu chán không phấn đấu nữa mặc dù vẫn dành phiếu cho Nixon nhưng họ không muốn chống lại Quốc hội. Một cảnh tượng không ngờ, Bồ câu thì chống dữ dội, Diều hâu yên lặng khiến nỗ lực của nhóm phản chiến được Quốc hội chấp thuận năm 1973, nó đã mang đi sự đe dọa trừng trị cuối cùng của Mỹ đối với CSBV và như thế đã phá hỏng cơ hội cuối cùng của chính phủ để gìn giữ hòa bình cho VN.

BV nắm ngay cơ hội nghìn năm một thuở, tháng 10-1973, lãnh đạo CS tại Hà Nội lệnh cho các đơn vị chính qui tấn công miền Nam khởi đầu cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ ba. Nixon nói sau Hiệp định Paris VNCH bị nhiều bất lợi phải lâm vào thế phòng thủ, trong khi miền Nam VN bị tấn công, BV không bị Mỹ hăm dọa, họ chủ động chính trị quân sự tại VN. Từ sau ngày ngưng bắn BV khởi công cho xây dựng xa lộ Đông Trường Sơn nằm trong địa phận VNCH để chuyển tiếp liệu, nhân lực vào Nam, xây dựng một kho tiếp liệu dầu rất lớn tại Thừa Thiên Quảng Trị, một ống dẫn dầu từ phía dưới khu phi quân sự chạy tới phía Bắc Sàigon. Trong 12 tháng BV đã làm thêm 12,000 dặm đường tiếp vận và rút ngắn 2/3 thời gian chở quân xâm nhập vào miền Nam qua 1,200 dặm vào VNCH. Trước khi ký Hiệp định Paris 27-1-1973 Mỹ oanh kích đường mòn Hồ chí Minh khiến BV không thể đem vào Nam nhiều như vậy, họ đi ban đêm từng toán nhỏ, nay không bị Mỹ ném bom họ đi bằng xe vận tải, 300 chiếc trên xa lộ Đông Trường Sơn mỗi ngày, mỗi tuần hàng ngàn xe vận tải tới miền Nam chở vũ khí, đạn dược, quân nhu. Các trung đoàn phòng không, pháo binh, xe tăng cũng được đưa vào. Hà Nội đưa vào Nam hơn 75,000 cán binh nâng tổng số quân lên 170,000 người. Số chiến xa tăng lên gấp 5 lần thành 500 chiếc, trọng pháo tăng từ 170 tới 250 khẩu.

Việc CS dám đưa vũ khí quân đội vào Nam VN cho thấy việc oanh tạc Lào quan trọng như thế nào, sự việc cho thấy Quốc hội Mỹ cấm oanh tạc sự xâm nhập của địch tai hại như thế nào. Nixon nói thật là cay đắng khi ta nhìn Hà Nội gây dựng sức mạnh quân sự tại miền Nam mà đành chịu bó tay chịu trận. Hai năm sau ngày ngưng bắn Hà Nội đã phục hồi sức mạnh của họ như khi mở cuộc tấn công 1972, miền Nam VN nay lại phải đối phó với mối đe dọa xâm lược của BV mà không có yềm trợ của không lực Mỹ.

Trong khi Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào: Giai đoạn 1969-1972: 684,666 tấn hàng vũ khí, giai đoạn 1973-1975: 649,246 tấn, hai giai đoạn coi như tương đương. Ưu thế giữa SàiGòn và Hà Nội đã hoàn toàn đảo ngược. Tại Hòa đàm Paris Mỹ hứa thay thế tất cả vũ khí đạn dược bị hư hại hoặc đã xử dụng sau ngày ngưng bắn nhưng Quốc hội từ chối không cho thay thế, họ cắt giảm viện trợ do hành pháp đưa ra. Từ 2,270 triệu tài khóa 1973, bị cắt xuống còn 1,010 tài khóa 1974 và 700 triệu tài khóa 1975, các Thượng nghị sĩ, dân biểu lý luận rằng viện trợ quân sự cũng như khuyến khích chiến tranh, nếu giảm quân viện cho Sài Gòn sẽ chấm dứt chiến tranh, thực ra họ muốn bỏ VN.

Lạm phát cũng giảm viện trợ: giá quân dụng tăng 27%, giá dầu tăng 400%, cuối 1973 những vụ vi phạm của CS liên tiếp xẩy ra khiến đạn dược của miền Nam cạn dần, tháng 12 năm 1973 các nhà quân sự hành pháp đề nghị tăng thêm 494 triệu cho ngân sách viện trợ. Tháng 1, tháng 2 -1974 khi Quốc hội đang duyệt xét, quân đội miền nam VN phải tiết kiệm đạn dược, giảm hỏa lực yểm trợ, bỏ bắn quấy phá. Khi Quốc hội bác bỏ đề nghị gia tăng quân viện tháng 4-1974, chỉ ba tháng trước khi bắt đầu ngân sách tiếp liệu cho VNCH nguy kịch, sự thất bại của Hành pháp trong quân viện có nghĩa là trong những tháng kế tiếp, đường ống tiếp liệu cho miền Nam sẽ chậm dần thành nhỏ giọt.

Kho đạn dược từ 177,000 tấn tháng 1-1973 tụt xuống còn 121,000 tấn tháng 5-1974 mặc dù đã xử dụng tiết kiệm cho tới xử dụng hạn chế. Tháng 4-1974 tiếp liệu đạn đại bác thật là nguy kịch. Khoảng 35% xe tăng, 50% thiết giáp, máy bay thiếu cơ phận thay thế phải nằm ụ, đến mùa hè kho quân dụng thê thảm vỏ xe, pin máy truyền tin, nòng súng M-16.. tụt xuống dưới mức an toàn. Vì bị cúp nhiên liệu, chỉ còn 55% xe quân xa di chuyển được, khả năng lưu động vận chuyển của quân đội không còn. Quốc hội cắt giảm khiến thuốc men bị thiếu hụt, tử vong cao. Năm 1974 kho dụng cụ y khoa thiếu hụt trầm trọng, năm 1974 đã khó khăn như thế nhưng năm 1975 còn tệ hại hơn nhiều nếu Hoa kỳ không viện trợ kinh tế quân sự đầy đủ. Vì viện trợ Quân sự bị cắt giảm, đã có một số các nhà quân sự đề nghị thu hẹp lãnh thổ vì không đủ lực lượng phòng thủ.

Từ chức ngày 9-8-1974, TT Nixon vô cũng bất mãn với tình hình VN, khi kết thúc Hiệp định Paris, ông đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết

Hà Nội thành công khai thác lợi dụng hòa bình để chuẩn bị chiến tranh. Điều đáng sợ nhất là Hà Nội tái võ trang trong lúc đóng tại Lào, Miên, VNCH, khi Nixon rời chức vụ ông biết rằng Quốc hội để tình trạng ấy sẽ diễn ra, miền Nam bị bức tử mà không muốn để cho Tổng thống Ford đảo ngược tình hình. Nixon bị xúc động mạnh trước tinh thần vô trách nhiệm của Quốc hội gồm đa số phản chiến, VNCH là một nước nhỏ phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để sống còn trước cuộc tấn công thô bạo của chế độ độc tài. Các ông Thượng nghị sĩ, Dân biểu muốn miền Nam VN bị đơn độc thật là phi lý, trong khi Đại Hàn, Đức quốc đều có quân đội Mỹ đóng bảo vệ, họ không muốn cho hành pháp được quyền trả đũa BV xâm lăng hoặc cung cấp cho miền Nam VN đầy đủ đạn dược.

Nixon nói sự can thiệp của Mỹ đã cứu 19 triệu người miền Nam VN trong 18 năm không bị CS cai trị từ 1954-1972 và tạo thời cơ cho các nước Nam Dương, Thái Lan, Phi Luật Tân củng cố sức mạnh để phòng ngừa CS xâm lăng, ông cũng cố gắng thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ vẫn còn trách nhiệm sau khi đã ký Hiệp định.

Sau ngày 27-1-1973, Quốc hội đã rút hết trách nhiệm của Hoa kỳ đối với VNCH, họ hủy bỏ khả năng dùng sức mạnh của Mỹ để bảo vệ hòa bình, nếu không có sự đe dọa oanh tạc trở lại BV sẽ đem quân chiếm miền Nam VN, và nếu không có viện trợ quân sự kinh tế, miền Nam sẽ không đủ sức tự vệ chống CS xâm lược.

“Tôi biết họ muốn để chiến tranh VN lại phía sau lưng chúng ta. Nhưng tôi không thể hiểu tại sao hình như họ quyết định đứng nhìn VNCH bị BV xâm lăng. Cho dù ý định của họ thế nào, nhưng đó là hậu quả hành động của họ”
No More Vietnams - Trang 190

Cuối cùng xe tăng của CSBV tiến vào giữa Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975, một đất nước có chính phủ, quốc hội, quân đội.. đã tiêu tan như mây khói một sớm một chiều.
Trang 165 sách đã dẫn, TT Nixon nói.

“Chúng ta chiến thắng ở Việt Nam nhưng không giữ được hoà bình. Thành quả mà ta đạt được sau mười hai năm chiến đấu đã bị vứt bỏ trong một cơn điên khùng vô trách nhiệm của Quốc hội”

Kết Luận

Như đã trình bầy cuộc chiến tranh can thiệp trực tiếp (involvement) của Hoa Kỳ vào Đông Dương và Việt Nam gồm hai giai đoạn thuộc các nhiệm kỳ Tổng thống của Johnson 1965-1968 và Nixon 1969-1972, 1973-1974. Giai đoạn Johnson từ 1965-1968 là cơ hội rất thuận lợi để chiến thắng CS. Đây là lúc cao điểm của thuyết Domino, năm 1965 Johnson đã được lưỡng viện quốc hội và 78% dân chúng ủng hộ đưa quân vào VNCH và Đông Dương. Johnson được Quốc hội cho tăng quân đều đều bốn năm liên tiếp, có cả thiên thời, địa lợi, nhân hòa nhưng ông đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng. Kế hoạch chiến tranh giới hạn “vừa đánh vừa run” của ông “Thầy Dùi” McNamara đã đưa tới thảm bại, từ sau Tết Mậu thân 1968, người dân không còn nhẫn nại được nữa, họ chống đối quyết liệt đòi phải phục hồi hòa bình đem quân về nước khi mà thuyết Domino đã đến lúc hết thời.

TT Johnson đã bàn giao lại cho người kế vị Nixon một gia tài đổ nát, một căn nhà dột, siêu vẹo. Tác giả Nguyễn Kỳ Phong trong cuốn Vũng Lầy Của Bạch Ốc trang 398 nhận xét về Nixon như sau:

“Khi Nixon được ghi vào lịch sử những vị Tổng thống Hoa Kỳ, ông có thể đượïc liệt kê là xấu hoặc tốt, giỏi hay dở. Nhưng không ai có thể phủ nhận Nixon không có một sự nghiệp chính trị ngoại hạng”

Nhưng cho dù có là Khổng Minh tái thế Nixon cũng không thể cứu vãn nổi tình hình, không thể đảo ngược được thế cờ thay đổi dòng lịch sử khi mà tỷ lệ người ủng hộ chiến tranh ngày càng tụt thang nhanh chóng: từ đầu 1967 tới cuối 1967 giảm từ 52% xuống còn 45%, từ đầu 1968 tới tháng 10-1968 giảm từ 42% xuống còn 37%, từ đầu 1969 tới tháng 10-1969 giảm từ 39% xuống 32%, từ đầu 1970 tới giữa 1971 giảm từ 33% xuống còn 28%.(nguồn Wikipedia).

Nixon chỉ trích những sai lầm trong chính sách quân sự của vị Tổng thống tiền nhiệm như sau:

-Oanh tạc BV hạn chế để họ phải ngồi vào bàn hội nghị cũng như để nâng cao tinh thần quân đội VNCH, Nixon cho rằng nâng cao tinh thần chưa đủ và Hồ Chí Minh cùng đồng bọn chỉ nghĩ tới xâm lược, họ không màng tới hòa giải.

-Johnson không xử dụng sức tấn công dữ dội của quân đội Mỹ, chỉ đánh hù dọa BV khiến cho họ lờn mặt không chịu chấm dứt cuộc chiến xâm lược miền Nam VN.

-Johnson đánh hao mòn quân BV tại VNCH nhưng ông đã thất bại vì không ngăn chận được sự xâm nhập của địch qua đường mòn Hồ Chí Minh. Sự giới hạn áp lực đối với địch để họ phải ngồi vào bàn hội nghị không có kết quả, ta không thể mớn trớn Hồ chí Minh từ bỏ cuộc chiến xâm lăng miền Nam mà bắt hắn phải từ bỏ. Chính sách oanh tạc BV giới hạn thất bại vì Johnson-McNamara ngây thơ tin tưởng rằng áp lực từ từ sẽ khiến địch phải hòa giải.

Chúng ta đặt giả thuyết Johnson đắc cử nhiệm kỳ thứ hai 1969-1972 thì ông đã không giữ được Đông Dương cho tới 1974, 1975 nó có thể đã sụp đổ từ những năm 1969, 1970 khi mà phong trào phản chiến lên quá cao. Ta cũng đặt giả thuyết Nixon làm Tổng thống từ nhiệm kỳ 1965-1968 tình hình chắc sẽ có nhiều biến chuyển thuận lợi, ông sẽ không bỏ lỡ cơ hội chiến thắng. Với chính sách chính trị quân sự cứng rắn Nixon không để cho CSBV cù cưa kéo dài chiến tranh như vậy mà sẽ lôi cổ họ lại bàn hội nghị ký kết hiệp định ngưng bắn, VNCH đã không sụp đổ như năm 1975. Là người hiểu rõ sự ngoan cố của CS hơn Johnson nhưng Nixon không gặp thời.

Trận oanh tạc Cộng quân trong trận chiến 1972 và trận mưa bom Giáng Sinh 1972 của Nixon không những đã đánh phủ đầu BV mà còn thị uy khối CS quốc tế đừng vuốt râu hùm, cả Nga Sô Trung Cộng đều đã khiếp sợ sức mạnh kinh hồn của không lực Mỹ mà không dám hé răng bênh vực đàn em BV. Nixon đã làm tất cả mọi nỗ lực để cứu VNCH và Đông Dương nhưng như ta đã thấy trong giai đọan cuối cùng của cuộc chiến ông đã bị lập pháp trói tay không còn quyền hành gì để cứu vãn tình thế, mọi kế hoạch chính trị quân sự của ông đều đã bị Lập pháp phá hỏng hết.

Ở đây ta thấy một yếu điểm đáng kể của chế độ dân chủ tự do: chính phủ không có thực quyền, mọi quyết định quan trọng nằm trong tay Quốc hội và cử tri, ta có thể tóm tắt sự phân chia quyền lực tại Hoa Kỳ như sau:

Lập pháp lãnh đạo, Hành pháp quản lý, cử tri làm chủ

Nhiều người nghĩ nếu Tổng thống Nixon còn tại chức thì VNCH chưa chắc đã sụp đổ, sự thực dù ông có còn làm Tổng thống hay không thì miền Nam và Đông Dương cũng không thể tồn tại vì như ta đã thấy sau ngày 27-1-1973 ông không còn quyền hành gì về quân sự, chính trị để đương đầu với CS .

Trong truyện Chiến Tranh và Hòa Bình, nhà văn hào Léon Tolstoi đã đưa ra thuyết vĩ nhân và lịch sử, hay thuyết định mệnh lịch sử cho rằng vĩ nhân không có ảnh hưởng gì đối với lịch sử mà chỉ là công cụ của lịch sử và cũng bị cuốn theo dòng lịch sử. Có nhà phê bình cho rằng Tolstoi đã ghen tài với Napoléon khi đưa ra thuyết ấy nhưng ở đây nó cũng soi sáng cho chúng ta phần nào giai đoạn lịch sử cận đại thập niên 70.

Theo Nixon, Việt Nam đã là đề tài của trên 1,200 cuốn sách, hàng ngàn vạn bài báo, hàng mấy trăm phim và tài liệu truyền hình, đa số nhận định : Chiến tranh VN là cuộc nội chiến, Hồ Chí Minh là nhà ái quốc được đa số người VN hai miền ủng hộ, Việt Cộng được lòng dân chúng tại miền quê qua chính sách nhân đạo, đa số lính Mỹ tại VN nghiện hút sì ke gây nhiều tội ác, người Mỹ thua về quân sự, Hoa Kỳ có chính sách oanh tạc những mục tiêu thường dân, tù binh Mỹ được BV đối xử nhân đạo, phản chiến đã rút ngắn chiến tranh, Hiệp định Paris chỉ là khoảng cách vừa đủ (Decent interval) để Hoa Kỳ rút quân và VNCH sụp đổ, thuyết Domino sai, nay tại Đông Dương sau khi Mỹ rút đi cuộc sống tốt đẹp hơn…

Nixon cho rằng tất cả những nhận định trên đây đều sai hết, truyền thông báo chí đã đầu độc người dân Mỹ và phong trào phản chiến.

Người mình thường coi Kissinger là đạo diễn của Hiệp Định Paris bức tử VNCH, trên thực tế ông ta chỉ là kẻ thừa hành của Nixon, như đã thấy ngay như ông Tổng thống trong giai đọan này chẳng còn quyền hành gì để giải quyết chiến tranh huống hồ người phụ tá như Kissinger.

Cuối cùng người Mỹ đã phải chịu thua chiến lược “cố đấm ăn xôi” lợi hại của anh hủi CS da vàng ghê tởm.

Trọng Đạt

Tài liệu tham khảo:

Richard Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New York 1985.
Americanrhetoric.com/speeches/richardnixoncambodia.html: Richard M. Nixon, Cambodian incursion address
en.wikipedia.org/wiki/Cambodian_Campaign: Cambodian Campaign
Lars-Klein. com: Nixon plan for ending Vietnam war.
Digital history. uh. Edu/… Nixon and Vietnam.
Kansaspress.ku.edu: Nixon’s Vietnam war
Wikipedia: Operation Linebacker II
Wikipedia: War Powers Resolution
Answer.com: War Powers Act of 1973.
Answer.com:What is the War Powers Act?
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war.
English.illinois.edu/maps/vietnam/antiwar.html: Mark Barringer: The Antiwar Movement in the United States.
Radical times: The antiwar Movement of the 1960s, Politic and the Antiwar Movement.
Answer.com: Vietnam Antiwar Movement
The Hauenstein Center for Presidential: Nixon and the Christmas bombing.
www.answer.com/topic/domino-theory: Domino theory.
Leo Tostoy: War And Peace, The Maude translation, W.W Norton & Company, New York-London, 1966.
BBCVIETNAMESE.Com: Viện Trợ Quốc Tế Cho Miền Bắc Trong Chiến Tranh, 10-5-2006
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006.
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam.2000
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1991.
Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh 2005
Ngô Quang Trưởng: Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972, Trung Tâm Quân Sử Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bản dịch của Kiều Công Cự, xuất bản 2007
Đặng Phong: 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trí Thức, Hà Nội 2008

Copyright © 2008 - All rights reserved.