bao the gioi


Nixon và Việt Nam - Phần 2
Trọng Đạt


(Tiếp theo)

Cuộc Tổng tấn công năm 1972

Nixon cho biết công cuộc bình định và chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đã thay đổi toàn diện cuộc chiến tại Việt Nam. Chiến sự năm 1972 khác hẳn tình hình cuối 1970, ta đã đối phó với chiến lược du kích chiến lợi hại của địch, nay họ bỏ sang chiến tranh qui ước như chúng ta.

Những tháng đầu của năm 1972, Hoa Kỳ đã đoán trước một cuộc tổng tấn công quyết định của BV. Sự xuất hiện của xe tăng tại Lào cho thấy trận này sẽ không giống như tổng khởi nghĩa Tết Mậu thân mà sẽ là dàn trận đánh công khai, nếu thắng trận họ sẽ xóa bỏ VNCH trên bản đồ, ngược lại thất bại họ sẽ phải đàm phán nghiêm chỉnh chấm dứt chiến tranh. Theo Nixon (No More Vietnams, trang 140-142) phía Hoa Kỳ và VNCH đã chuẩn bị đối phó với trận tổng công kích của BV vì đã kết hợp năm yếu tố của chính sách VN.

-Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đưa QLVNCH lên thành một đạo quân hùng cường gồm: 120 tiểu đoàn bộ binh tổ chức thành 11 sư đoàn, 58 tiểu đoàn pháo binh, 19 đơn vị thiết kỵ cấp tiểu đoàn, Hải quân gồm 1,680 tầu bè các lọai, máy bay gồm trên 1,000 chiếc, dân số miền Nam 19 triệu có trên một triệu lính.

-Chương trình bình định khiến ta đã kiểm soát từ Sàigòn cho tới các xã thôn, phá hủy hạ tầng cơ sở CS, triệt hạ cơ sở tình báo, tiếp liệu địch. Viện trợ kinh tế Hoa kỳ đưa đời sống miền Nam lên cao chưa từng thấy.

-Chính sách ngọai giao với các siêu cường để cô lập BV với Nga, Tầu. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Trung Cộng tháng 2-1972 , Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai chỉ phản đối xuông nhẹ nhàng về hành động của Mỹ tại VN. Nixon cũng sang Nga để hòa hoãn với anh trùm CS này. Cuộc họp thượng đỉnh với Brezhnev tháng 5-1972 tại Mạc Tư Khoa, Nixon đã bàn thảo giải quyết những vấn đề quan trọng với Nga như tài giảm binh bị, mua bán lúa mì. Brezhnev chỉ coi vấn đề VN vào hàng thứ yếu.

-Chương trình rút quân đã lấy được sự ủng hộ của Lập pháp và người dân trong mấy năm, tháng 1-1972 Hoa kỳ đã rút trên 400,000 quân khỏi VN, số 133,200 người còn lại không có ai tham gia chiến đấu mà chỉ chờ ngày về nước trong 6 tháng.

-Với lòng kiên nhẫn, sự chịu đựng, Kissinger cố sức giải quyết mọi bế tắc trong các phiên họp tại Paris, BV từ chối mọi đề nghị của ta. Tháng 10 -1971 Hoa kỳ đã đưa ra một đề nghị hòa bình nhưng BV vẫn tìm cách cù cưa để phân hóa chia rẽ nội bộ nước Mỹ, họ đòi Mỹ rút quân và lật đổ chính phủ Thiệu. Nixon đã tuyên bố cho nhân dân Hoa kỳ biết thái độ ngoan cố của CSBV để chuẩn bị trừng trị họ thích đáng bằng vũ lực.

Ngày 30-3-1972, Hà Nội mở trận tấn công đại qui mô vào VNCH, địch tập trung ba Sư đoàn bộ binh, 200 xe tăng T-54, nhiều đại bác 130 ly vượt qua khu phi quân sự, nhiều đơn vị khác theo đường số 9 Hạ Lào hướng về Huế, hai Sư đoàn tiến về Kontum, ba Sư đoàn từ Miên tiến đánh Bình Long giống như Bắc Cao ly xâm lăng Nam Cao Ly năm 1950.

Nixon cho đây là một cuộc tấn công tuyệt vọng của địch vì họ biết Mỹ đã hòa hoãn được với Nga, Trung Cộng. BV biết họ không còn ở thế thuận lợi nên phải làm liều. Trong tuần đầu, ngày 2-4-1972 CSBV đánh sụm Sư đoàn 3 của VNCH dưới khi phi quân sự, mười bốn căn cứ phải rút chạy trước sức tấn công rất mạnh của địch. Ngày 5-4, ba Sư đoàn CS tấn công Bình Long. Ngày 13-4 địch bao vây An Lộc, ngày 23-4 BV tấn công Kontum, Sư đoàn 22BB VNCH rút chạy, Sư đoàn 23BB vẫn giữ vững vị trí. Ngày 27- 4 địch tấn công mạnh mặt trận Bắc VNCH, 4 ngày sau Quảng trị thất thủ.

Trong cuộc tấn công tại Quảng trị, BV pháo kích vào dân chúng chạy loạn. Hoa Kỳ phản kích địch nhanh chóng, các đơn vị lớn của CS như xe tăng, tiếp liệu… thành mục tiêu rõ ràng cho không quân Mỹ, ngày 1- 4 Nixon cho lệnh oanh tạc 40 cây số phía trên vĩ tuyến thứ 17. Hai tuần sau ông cho lệnh oanh kích vĩ tuyến 20, cho tập trung các lực lượng Hải quân, Không quân Đông Nam Á, gửi hai tuần dương hạm và 8 khu trục hạm để hải pháo, 20 B-52, bốn phi đội F4 oanh tạc BV trở lại và nhiều đòn giáng trả tiếp theo đó. Ngày 2-5 tại bàn hội nghị Paris, BV tưởng sẽ đè bẹp miền Nam bằng quân sự nên tỏ ra hỗn láo, Kissinger không chịu nổi phải bỏ họp.

Tin tình báo cho biết muốn tấn công miền Nam, CSBV cần nhiều ngàn tấn nhiên nhiên liệu và đạn dược mỗi ngày, tốt nhất phải ngăn chận sự vận chuyển tiếp liệu này. Hai tháng trước Nixon mở bang giao với Trung Cộng, ba tuần nữa ông sẽ họp thượng đỉnh với Brezhnev tại Moscow. Nixon phân vân không biết phản ứng của hai anh trùm CS này ra sao khi ông tấn công chư hầu BV của họ. Ông cho rằng nếu để BV chiếm miền Nam, Bộ chính trị Nga, Trung Cộng sẽ cho là Mỹ nhu nhược và sẽ coi Mỹ như một con cọp giấy chẳng đáng nói chuyện vì thế ông ra lệnh gài mìn phong tỏa cảng Hải Phòng và oanh tạc các mục tiêu quân sự tại BV kể cả Hà Nội

Ngày 8-5-1972 Nixon lên truyền hình, sau khi đã thông báo về cuộc tấn công xâm lược của BV, ông đưa ra ba nhiệm ý: Rút quân bỏ VN, đàm phán hòa bình, và lấy sức mạnh quân sự chấm dứt chiến tranh.

Theo ông trước hết không thể bỏi rơi đồng minh vì ta sẽ khuyến khích CS gây hấn trên thế giới. Hoa Kỳ muốn đàm phán nhưng BV không muốn nói chuyện, như vậy chỉ còn cách ngăn chận cuộc tấn công xâm lăng của địch. Khi ấy phong trào phản chiến và truyền thông chống đối Nixon dữ dội, một tờ báo cho đây là canh bạc tuyệt vọng và đề nghị Quốc hội cắt ngân khoản chiến tranh để cứu chính Tổng thống và cứu đất nước khỏi tai họa. Mọi người cho rằng hội nghị thượng đỉnh với Nga sẽ bị hủy bỏ, Hà Nội kêu cầu cứu đàn anh nhưng họ chỉ phản đối xuông. Nga vẫn muốn họp thượng đỉnh dự trù vào ngày 22-5-1972 vì muốn có quan hệ ngọai giao tốt với Mỹ, vả lại Nga nể sức mạnh và lập trường cứng rắn của Mỹ, đòn trừng trị của Mỹ cũng là để “dằn mặt” hai anh trùm CS quốc tế. Trước đây chính phủ Kennedy và Johnson sợ đánh mạnh BV sẽ khiến Nga, Trung Cộng vào can thiệp nhưng nay tình hình thay đổi.

Trong tháng 5 -1972 VNCH đã thắng thế CSBV, gió đã đổi chiều, BV lộ mục tiêu làm mồi cho B-52. Ngũ Giác đài đề nghị Nixon oanh tạc BV hạn chế như thời Johnson nhưng ông cho rằng thời Johnson giơ cao đánh khẽ sẽ làm cho kẻ địch lờn mặt, coi thường
(I think we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was certainy the weakness of the Johnson administration).

Nixon nói chúng ta có sức mạnh để đập tan tiềm lực quân sự của chúng, chỉ còn vấn đề là khi nào ta muốn dùng sức mạnh. Tôi khẳng định muốn xử dụng vũ lực và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của nó.

Khi quả quyết như vậy, Nixon đã dùng hỏa lực vũ bão đánh BV và đạt kết quả mỹ mãn, ông trưng dụng tối đa các chiến hạm của Đệ Thất hạm đội, hơn 400 pháo đài bay B-52 và khu trục cơ F-4 để oanh kích cả hai chiến trường Nam Bắc. Cũng như Johnson, ông chỉ cho oanh tạc các mục tiêu quân sự nhưng khác với Johnson ông không đích thân kiểm soát các mục tiêu mà ủy cho Đô đốc Moorer phụ trách.

Trong tháng 11-1972 Hải quân Mỹ đã pháo 16,000 tấn đạn xuống phía dưới khu phi quân sự và ném 155,000 tấn bom xuống miền Bắc, Nixon xử dụng ít bom hơn Johnson trong thời hạn tương đương, vì CSBV dàn quân đánh qui ước nên Mỹ đã xử dụng tối đa ưu thế của không quân để đè bẹp họ. Cảng Hải phòng một năm tiếp nhận 2.1 triệu tấn hàng gồm 85% quân dụng, vũ khí và 100% dầu, nhiên liệu, khi bị Hoa kỳ phong tỏa thì không một chiếc tầu nào ra vào hải cảng được, cuộc tấn công của địch bị khựng lại.

Sau này, năm 1978, trả lời một sinh viên bên Anh, Nixon nói tiếc rằng ông không cho đánh qua Miên sớm hơn, oanh tạc BV sớm hơn hồi tháng 5-1972 , đáng lý ra phải oanh tạc BV và phong tỏa cảng Hải phòng từ 1970 khi hành quân qua Kampuchia. Nói về mặt quân sự thà đánh phá các cơ sở quân sự của CS Hà Nội tại BV tốt gấp bội lần đợi các lực lượng của chúng xâm nhập qua Ai Lao, Cao Miên hoặc gây chiến tranh tại VNCH.

Tháng 6-1972, QLVNCH bắt đầu phản công, tại An Lộc các đơn vị trú phòng đã anh dũng chiến đấu sau hơn hai tháng bị Cộng quân bao vây pháo kích tàn bạo, nay được sự yểm trợ của không quân Mỹ, họ bắt đầu phản công, sau hai tuần dành nhau từng căn nhà một họ đã giải tỏa thị xã khỏi tay Cộng quân. Tháng 8 -1972 Quân đội VNCH đã chiếm lại tỉnh Bình Long, ngày 28-6-1972 quân đội miền Nam bắt đầu tấn công mặt trận phía bắc, mười tuần sau mặc dù mưa gió ba Sư đoàn VNCH đã đẩy 6 Sư đoàn BV ra khỏi Quảng Trị. Trong trận chiến 1972, BV đưa hết lực lượng vào Nam gồm 14 Sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập, họ để lại một Sư đoàn và bốn trung đoàn độc lập tại Lào, không để lại một Sư đoàn nào tại miền Bắc. Quân đội CSBV bị đánh tan nát, tơi bời, 75% số xe tăng bị bắn cháy, cán binh CS nay chỉ toàn là những thiếu niên 16, 17 tuổi, số tử thương khoảng 100,000 người .

TT Nixon nhận xét trận tổng tấn công của CS 1972 lần đầu tiên QLVNCH một mình đẩy lui địch mà không cần sự yểm trợ của bộ binh Mỹ, điều này chứng tỏ nếu được võ trang đầy đủ, họ có thể đương đầu với các Sư đoàn tinh nhuệ của BV. Ông cũng cho biết VNCH đã chận đứng cuộc tấn công của địch dưới đất, không lực Mỹ đã đè bẹp chúng.

Hòa bình giả tạo

Hòa Đàm Paris

Hà Nội sau khi bị thảm bại trước sức mạnh của không lực Mỹ và bộ binh VNCH đã đàm phán nghiêm chỉnh trở lại. Họ biết chắc Nixon sẽ đắc cử Tổng thống tháng 11-1972, qua sự thăm dò Nixon hơn thượng nghị sĩ McGovern tới 30 điểm, trong phiên họp ngày 8-10-1972, BV muốn ký kết trước kỳ bầu cử Tổng thống, họ đưa bản đề nghị chỉ nhắm vào những điểm chính và bỏ nhiều đòi hỏi trước như Mỹ phải rút quân hoàn toàn, thành lập chính phủ Liên Hiệp tại miền Nam, lật đổ chính phủ Thiệu, cắt viện trợ quân sự cho miền Nam. CSBV muốn ngưng bắn tại chỗ, Mỹ rút quân, trao đổi tù binh trong vòng 6 tháng nhưng có một vấn đề không nhượng bộ, họ không chịu rút quân về Bắc lấy cớ không can thiệp vào nội bộ miền Nam, không có quân ở miền Nam. Nixon nói Mỹ phải nhượng bộ nếu không BV sẽ không chịu ký kết, hai bên dự định ký Hiệp định vào ngày 31-10-1972

Ngày 18-10-1972 Tiến sĩ Kissinger qua Sài Gòn để giải thích, TT Thiệu dứt khoát từ chối, Kissinger cho biết VNCH sợ sự gian trá của CS. Thực tình mà nói CSBV thua to trong trận mùa hè đỏ lửa 1972 mà lại như thắng trong khi VNCH thắng mà bị xử như thua. Sàigòn đòi Cộng quân phải rút về Bắc, đòi thay đổi 20 điểm, trong đó có bẩy điểm chắc chắn BV không chấp thuận. Điều chắc chắn là ngày 31-10-1972 là thời hạn chót nhưng bản Hiệp định sẽ không thành tựu. Người Mỹ đàm phán với VNCH và đồng thời với BV, Hà nội đồng ý nhiều điểm và muốn chứng tỏ cho thấy VNCH cản trở hòa đàm để đẩy ông Thiệu vào thế khó xử, nếu ông ta bác bỏ thỏa ước thì sẽ bị quốc tế lên án vì dự thảo có vẻ được, nếu chấp nhận sẽ bị trong nước chỉ trích là nhượng bộ CS.

Ngày 26-10-1972, Kissinger họp báo tuyên bố hòa bình trong tầm tay.

Cuối tháng 10-1972, Tiến sĩ Kissinger tới Sài Gòn để bàn về việc ký kết Hiệp định TT Thiệu không đồng ý, đòi sửa một số điều khoản nhất là CS phải rút hết về Bắc. TT Nixon cho ông Thiệu biết nếu miền Nam gây trở ngại cho hoà đàm thì Quốc Hội sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh tháng 1-1973, cắt viện trợ bỏ rơi VNCH để đánh đổi lấy khoảng 580 tù binh Mỹ tại Hà Nội. Nixon cho biết.

“Sự tồn tại của miền nam Việt Nam không phụ thuộc vào việc quân địch còn đóng tại một số vùng dân cư thưa thớt. Nó phụ thuộc vào việc Nước Mỹ cưỡng bách thi hành Hiệp định cùng với việc tiếp tục viện trợ và với sự đe doạ trừng trị bằng vũ lực. Điều đó chỉ có được nếu Sài Gòn được Quốc Hội ủng hộ. Nếu chúng ta không giải quyết cuộc chiến nhanh chóng, Quốc Hội có thể biểu quyết đạo luật chấm dứt chiến tranh vào tháng Một (1973). Nếu Quốc hội kết luận rằng miền nam Việt Nam gây trở ngại việc ký kết, việc này có thể khiến ta (Hành pháp) không giúp được đồng minh (túc VNCH) nếu cần. Tuy nhiên tôi cũng để cho Thiệu có thời gian suy nghĩ”
No More Vietnams, trang155


Thật vậy, việc CS rút hết về Bắc không quan trọng bằng VNCH được Quốc Hội tiếp tục viện trợ quân sự, nếu VNCH không chịu ký thì Quốc Hội sẵn sàng hy sinh VNCH và cả Đông Dương để đánh đổi lấy 580 tù binh Mỹ còn bị Hà Nội giam giữ. Cả Sài Gòn và Hà Nội đều dùng mưu mẹo với Hoa Kỳ. Ngày 9-11-1972, Nixon cử Tướng Haig tới Sài Gòn để tham khảo với VNCH, Nixon gửi thư cho Thiệu nói cố gắng sửa đổi, Haig cho biết nếu không ký trước khi Quốc hội họp lại tháng 1-1973, Lâp pháp sẽ cắt hết viện trợ cho miền Nam VN. Đối với Quốc hội Mỹ, sinh mạng của VNCH và cả Đông Dương không nghĩa lý gì so với sinh mạng của 580 tù binh của họ còn bị BV giam giữ.

Ngày 14-11-1972 TT Nixon lại thư cho TT Thiệu hứa hẹn sẽ trừng trị thích đáng BV nếu họ vi phạm Hiệp định.

Ngày 20-11 mở lại Hòa đàm Paris, Tiến sĩ Kissinger đưa ra những khoản do VNCH đòi sửa đổi nhưng Hà Nội bác bỏ ngay, TT Nixon cho biết nếu muốn ký Hiệp định phải bỏ đa số những khoản ông Thiệu đòi sửa. Ngày 4-12-1972, BV tỏ ra ương bướng hơn, đã bác bỏ các khoản Mỹ đề nghị sửa mà còn rút bỏ bớt một số điểm hai bên đã thỏa thuận, họ đưa ra những điểm không thể chấp nhận được. Kissinger nói với Nixon chắc là BV muốn phá hòa đàm để mở cuộc tấn công quân sự, BV tiếp tục bàn thảo nhưng không tiến tới ký kết, Kissinger và Nixon nhận định BV muốn kéo dài chiến tranh không muốn thương thảo. Ngày 13-12 hai bên lại đàm phán, Hà Nội muốn tiếp tục chiến tranh, Nixon muốn dùng hành động để bắt họ phải ký kết Hiệp định có nghĩa là phải ném bom BV. Ngày 14-12-1972 Nixon ra lệnh phong tỏa cảng Hải phòng trở lại, cho oanh tạc các mục tiêu quân sự Hải phòng bằng B-52.

“Đó là một quyết định khó khăn nhất liên quan đến Việt Nam mà tôi đã làm trong suốt nhiệm kỳ Tổng Thống của tôi. Nhưng tôi không thể làm khác hơn được. Tôi đoan chắc rằng nếu ta không bắt BV ký kết Quốc hội có thể buộc chúng ta phải chấp nhận thất bại bằng rút hết quân để đổi lấy tù binh”
No More Vietnams Trang 157.

Ngày 17-12 Hoa kỳ cho rào mìn, trong 24 tiếng đồng hồ 129 oanh tạc cơ B-52 bay qua ném bom BV, trong 12 ngày đã thực hiện được 729 phi vụ B-52 và khoảng 1,000 phi vụ khu trục cơ, tổng cộng đã ném khoảng 20,000 tấn bom. Các mục tiêu gồm đường giao thông, đường hỏa xa, nhà máy điện, phi trường, kho dầu, tất cả những cơ sở có tính quân sự.

Trận mưa bom đã khiến người dân Mỹ chống đối dữ dội, người ta cho rằng Nixon điên cuồng trong cơn giận dữ, họ gọi ông là bạo chúa, nào là “Trận oanh tạc giết người tàn bạo nhất trong lịch sử thế giới” (The most murderous aerial bombardment in the history of the world), nào “chính sách giết người hàng loạt nhân danh nhân dân Hoa Kỳ”…

Dư luận báo chí tố cáo Nixon oanh tạc trải thảm BV trong dịp Giáng Sinh nhưng ông cho họ sai lầm hoàn toàn, Hoa Kỳ không oanh tạc trong ngày Giáng Sinh (nghỉ ném bom hôm 25). Hồi Thế chiến thứ hai Mỹ ném bom trải thảm các thành phố Đức, Nhật nhưng tại BV, phi công Mỹ chỉ oanh kích các mục tiêu quân sự và được lệnh tránh thiệt hại cho thường dân dù phi công phải chịu nguy hiểm. TT Nixon nói tại Hà nội số thường dân bị tử thương trong trận oanh tạc này chỉ vào khoảng từ 1,300 cho tới 1,600 người, đó là điều đáng tiếc nhưng không thấm gì so với thiệt hại khi Mỹ oanh tạc các mục tiêu thường dân hồi Thế chiến Thứ hai: Tại Dresent, Đức có tới 35,000 người chết trong 3 đợt oanh tạc, tại Hamburg trên 42,000 người chết trong sáu đêm oanh tạc và 83,000 người Nhật bị giết khi Mỹ thả bom lửa tại Đông Kinh trong hai ngày. Nếu Mỹ oanh tạc các mục tiêu dân sự tại Hà Nội Hải Phòng thì số tổn thất sẽ cao hơn một trăm lần.

Trận mưa bom mười ngày từ 18-12-1972 cho tới 29-12-1972 thành công về mặt quân sự, đã đập tan nát bộ máy chiến tranh của Hà Nội khiến họ phải khiếp đảm, mất hết tinh thần. Về chính trị Mỹ đã buộc BV phải trở lại bàn hội nghị, ngày 8-1-1973 phái đoàn CS chấp nhận những khoản cơ bản trong 48 giờ đồng hồ. Hôm sau, ngày 9-1-1973 Kissinger điện tín cho TT Nixon nói những vấn đề quan trọng đã được giải quyết xong. Nixon cho biết đối với đa số người Mỹ, cuộc chiến VN không có các anh hùng, không duyệt binh, tuyên dương chiến sĩ…. Truyền thông báo chí coi những chính trị gia phản chiến, những người chống chiến tranh, bọn trốn lính mới là anh hùng.

Nixon nói ông đã hội nhập với lịch sử VN từ 1953 khi làm Phó Tổng thống, đã đến thăm Hà Nội, Sài Gòn , ông quí trọng người VN can đảm chịu đựng cuộc chiến chống kẻ thù tàn ác. Năm 1969 lên làm Tổng thống, Nixon muốn chấm dứt chiến tranh ngay nhưng với mục đích: Tránh cho người dân VN không bị CS cai trị và làm cho CS thế giới nhụt chí xâm lăng. Ông ghét chiến tranh VN cũng như tất cả các cuộc chiến khác nhưng không thể chấm dứt chiến tranh VN mà có thể gây ra những cuộc chiến khác lớn hơn.

Chiến tranh VN khiến người Mỹ đau lòng vì cuộc chiến tại đất nhà, một cuộc chiến tranh gây nhiều chia rẽ nhất từ xưa đến nay, nó đã khiến nhiều dân biểu, thượng nghị sĩ thân thiết nhất của Nixon từ hơn 20 năm qua đã trở thành đối thủ của ông khi lên làm Tổng thống năm 1969. Cuộc chiến này đã khiến nhiều nhà báo, truyền thông trước đây khách quan nay thành những người xấu, thiên lệch, họ chống đối chính phủ, đi ra ngoài quyền lợi của đất nước. Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972, Nixon được 61% số phiếu bầu toàn quốc, trong khi ứng cử viên đối thủ phản chiến được 81% số phiếu của truyền thông, báo chí. Các phóng viên coi như họ có bổn phận chống lại chính sách của chính phủ bằng mọi cách.

Nixon nói (No More Vietnams, trang 162) ông mong các thế hệ trẻ Mỹ đã được hướng dẫn, được dậy ghét nước Mỹ thập niên 60 sẽ học yêu nước Mỹ, ông đã thấy nhiều người thuộc lớp trẻ chống chiến tranh VN những năm bầu cử 1968, 1972. Tại Virginia, Nixon tới đọc diễn văn trước một cuộc hội họp đã bị một cô gái 17 tuổi vượt hàng rào an ninh chạy tới nhổ nước bọt vào mặt ông, chửi ông là đồ sát nhân. Johnson chết vì đau tim tháng 22-1-73, hàng trăm nhà chính trị gia, kinh doanh đã được ông giúp đỡ nay chẳng ai thương xót ông, họ đã từ bỏ ông, đã kết án ông là tội phạm chiến tranh. Nixon nói hơn 50,000 người Mỹ đã chết tại VN, tốn kém hơn 50 tỷ Mỹ kim, và đã mất mười năm trôi qua, VN đã làm tê liệt các nỗ lực của người Mỹ về mặt xã hội vì phải dốc tài nguyên cho chiến tranh.

Sau khi nhận được tin tức từ Paris về việc ký kết hiệp định, Nixon cảm thấy thoải mái hơn là phấn khởi, ông quyết định dồn mọi nỗ lực để giữ hòa bình.

“Tôi biết rằng hòa bình chỉ là mỏng manh. Tôi chủ trương làm đủ mọi cách để giữ hòa bình sao cho sự hy sinh của chúng ta không trở thành vô ích. Tôi biết rằng địch chỉ giữ hòa bình khi nếu họ biết rằng cái giá mà họ phải trả sẽ vượt quá cái mà họ đã thu được nếu họ vi phạm”
No More Vietnams, trang 163

Hiệp định được ký ngày 27-1-1973 tại khách sạn Majestic, Paris.
Nixon nói (trang 167, sách đã dẫn)

“Tôi thông cảm với Thiệu và chia sẻ nỗi lo âu của ông ta. Tôi biết rằng Hiệp định có nhiều khuyết điểm. Nhưng tôi nghĩ nhìn chung cũng tốt đẹp. Và tôi biết rằng trong khi Quốc Hội đang phản đối ầm ĩ, chúng ta không thể làm gì khác hơn thế”.

Hành pháp bị bó buộc phải ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh phục hồi hòa bình ở VN, vì còn nhiều yếu điểm ông muốn thương thảo để được khả quan hơn nhưng không thể kéo dài thêm trong khi Quốc Hội sắp ra luật chấm dứt sự can thiệp của Mỹ có lợi cho Hà Nội, ông chua chát bảo.

“Lúc này không phải là lúc thuận lợi cho chúng ta mà đó là giờ phút cuối cùng”.
(It was not our finest hour – but it was the final hour”)

Trang 170, No More Vietnams

Trong khi Quốc Hội Mỹ gồm đa số thành phần Dân chủ phản chiến sẵn sàng ban hành luật chấm dứt chiến tranh rút hết quân về nước bỏ Đông Dương để đánh đổi lấy 580 tù binh còn bị CSBV giam giữ thì Nixon không làm gì hơn được.

Thời hậu chiến

Sau ngày ký Hiệp định Paris, miền Nam mạnh hơn miền Bắc, Hoa kỳ đã trang bị cho VNCH khoảng 2,000 máy bay đủ các lọai, 2,000 xe tăng thiết giáp, khoảng 1,500 khẩu đại bác, 1,500 tầu bè các lọai…bộ binh có hơn một triệu quân, lính nhà nghề gồm 11 sư đòan, 2 sư đoàn tổng trừ bị, 17 liên đoàn Biệt động quân… Miền Bắc bị thiệt hại nặng sau trận mùa hè đỏ lửa khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn quân, khoảng từ 500 cho tới 700 xe tăng bị bắn cháy. Trong trận mưa bom của B-52 tại Hà Nội Hải Phòng từ 18-12-1972 cho tới 29-12-1972, các hạ tầng cơ sở quân sự, kho hàng, nhiên liệu, đường xe lửa, phi trường bị đánh phá tan nát. Nhưng từ từ theo thời gian miền Bắc được CS quốc tế viện trợ dồi dào, miền Nam bị Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ dần dần nên cán cân chênh lệch rõ rệt.

Hà Nội định nghĩa ngưng bắn là Hoa kỳ “ngưng”, họ “bắn”.

Trước khi ký kết TT Nixon đã trấn an ông Thiệu: Hoa kỳ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng có thể chống trả BV khi họ vi phạm ngưng bắn, VN chống lại vi phạm nhỏ, Mỹ chống lại vi phạm lớn bằng yểm trợ không lực, ít nhất Mỹ có thể làm như vậy. Ngoài ra Hiệp định cũng hứa hẹn bồi thường chiến tranh, tái thiết miền Bắc bị tàn phá. Nga, Tầu không đủ khả năng giúp họ, bởi vậy viện trợ tái thiết của Hoa Kỳ sẽ là động cơ khiến BV thi hành Hiệp định nghiêm chỉnh, Nixon nói Hiệp định vừa có cây gậy, vừa có củ cà rốt.

Trước khi ký Hiệp định Mỹ vội viện trợ cho VNCH 3 tiểu đoàn pháo binh 175 ly, 2 tiểu đoàn thiết giáp M-48, 286 trực thăng UH-Helicopter, 23 trực thăng CH-47, 22 trực thăng AC-119K vũ trang, 28 máy bay chiến đấu A-1, 32 máy bay vận tải C-130A, 90 phi cơ oanh tạc loại nhẹ A-37, 118 máy bay chiến đấu F-5A, 23 máy bay thám thính EC-47..

Hà Nội vi phạm hiệp định sau ngày ngưng bắn, VNCH chống lại. Tháng 2-1973 đã có 175 xe vận tải, 223 xe tăng BV vào Nam qua đường mòn Hồ chí Minh, BV gia tăng xâm nhập, tháng 5-1973 họ chuyển khoảng 35,000 quân và 30,000 tấn vũ khí vào Nam, Hà Nội từ chối rút quân khỏi Miên Lào, từ chối trả vài trăm tù binh VNCH gây trở ngại việc thành lập Hội đồng hòa giải dân tộc, phá bầu cử.

Trước sự vi phạm liên tục, Nixon tức giận định trả đũa nhưng ông bị báo chí tố cáo ầm ĩ vụ Watergate và bị Quốc hội phản ứng mạnh đối với vấn đề VN nên không làm gì được. Tháng 2-1973 Kissinger ra Hà Nội, CS đòi Mỹ phải viện trợ tái thiết bồi thường chiến tranh, Kissinger nói tùy thuộc vào việc họ tôn trọng Hiệp định ngưng bắn và ông phản đối dữ dội việc họ vẫn còn vi phạm tại Mên Lào khiến Mỹ không thể chịu nổi. Từ 1972 Hà Nội gây dựng chế độ Khmer Đỏ để hòng chiếm Nam Vang từ đó cô lập VNCH. Lon Nol tăng quân từ 30,000 tới 200,000 người nhưng dàn mỏng và các sĩ quan thiếu huấn luyện. Tháng 1-1973 Khmer đỏ bao vây Nam Vang khiến Mỹ phải oanh tạc giải vây.

Sau ngày ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và vào khoảng 70,000 người xâm nhập vào miền Nam trước tháng 4 khi mùa mưa tới, Nixon cho oanh tạc trả đũa tháng 2, tháng 3 -1973 nhưng sợ ảnh hưởng tới việc trao trả tù binh dự trù 27-3-1973, tháng 4 ông hăm dọa BV để họ đừng vi phạm nhưng không oanh tạc, ông cho đó là sự sai lầm. Các Dân biểu, Thượng nghị sĩ phản chiến chống đối chính sách của Hành pháp, tháng 5, tháng 6 -1973 họ dự định làm luật cấm oanh tạc Miên, cấm can thiệp quân sự trực tiếp hay gián tiếp vào Đông Dương, cấm viện trợ tái thiết cho BV, như thế họ rút luôn cả cây gậy lẫn củ cà rốt khiến Hà Nội không còn lý do gì để chấp hành Hiệp định nữa.

Tháng 4-1973 mùa khô hết, chỉ còn một ít mục tiêu trên đường mòn Hồ Chí Minh, khả năng trừng phạt sự vi phạm của BV tiêu tan vào cuối tháng 4-1973, không phải Tổng thống Nixon mất ý chí, ông muốn hành động nhưng sự ủng hộ của Quốc hội đã hao mòn. Mỗi khi Tổng thống lên tiếng nói về trừng phạt, Quốc hội lại chống đối ầm lên, mỗi khi nhắc lại họ chống đối dữ hơn. Tháng 5-1973, TT Nixon không thể kiếm đủ số phiếu hậu thuẫn cho lời nói mạnh để hành động mạnh, trong bất cứ mọi trường hợp Quốc hội tước đọat quyền trả đũa của ông.

(Còn tiếp)

Copyright © 2008 - All rights reserved.