bao the gioi


HOUSTON VÀ ĐẠI HỘI VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI KỲ VIII
Hoàng Duy Hùng

Houston là thành phố lớn thứ tư của Hoa Kỳ, đồng thời cũng là Thủ Đô của NAFTA (North America Free Trade Agreement), Thủ Đô Nhiên Liệu Thế Giới (World Capital of Energy) vì có hệ thống lọc dầu vĩ đại và tinh vi ở Pasadena, và cũng là đầu não của Ban Điều Hành Quốc Gia Chương Trình Không Gian - National Aeronautics and Space Administration (NASA). Với khí hậu mát dịu và ánh nắng ấm chan hòa, Houston đã chào mừng các đại biểu từ phương xa đến để tham dự Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Kỳ VII diễn ra một cách long trọng tốt đẹp và thành công trong những ngày cuối tuần 12 -14/12/2008.

I.Houston: Khách phương xa đến Houston và gọi thành phố này cách thân thương là Hữu Tâm, nghĩa là “có lòng” để ám chỉ thành phố nắng ấm này rất hiếu khách và người dân rất rộng rãi cho các công việc chung.

Houston là thành phố được đặt tên cho một nhân vật lịch sử Sam Houston, vậy ông Sam Houston là ai?

A. Sam Houston (1793-1863): Sam Houston sinh ngày 2/3/1793 tại nông trại của gia đình ở Timber Ridge gần thành phố Lexington, Virginia. Dòng họ Allen di dân từ bên Scotland và Ireland. Sam Houston là 1 trong 9 người con của hai ông bà Samuel Houston và Elizabeth Paxton Houston. Thân phụ của ông đã từng phục vụ trong cuộc chiến đấu tranh giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 với chức vụ Thiếu Tá.

Sau cái chết của thân phụ vào năm 1807, mẹ của Sam Houston đem cả gia đình dời về thị trấn nhỏ Maryville, Tennessee. Khi ấy, Sam Houston chỉ mới biết đọc biết viết. Đến Maryville trong bối cảnh buồn chán, năm 1809, được 12 tuổi, Sam Houston bỏ nhà trốn vào ở với người Thổ Dân (Indian), sống với bộ tộc Cherokee do tù trưởng Olooteka cai quản. Tại đây, Sam Houston được bộ tộc Cherokee đặt tên là Colonneh, nghĩa là Quạ Đen.

Sau 3 năm sinh hoạt với thổ dân Cherokee, Sam Houston quyết định trở về cuộc sống bình thường. Năm 1812, lúc 19 tuổi, ông trở lại Maryville và mở trường tư thục. Trường học chính là căn nhà một phòng của ông.

Tháng 6 năm 1812, Tổng Thống James Madison (1751-1836) tuyên chiến với nước Anh vì nước Anh đã tuyên chiến với Pháp khi ấy là một đồng minh của Hoa Kỳ, nhất là nước Pháp đã giúp Hoa Kỳ trong Cuộc Cách Mạng Giành Độc Lập 1776. Thêm vào đó nước Anh đã có những từ ngữ hiếu chiến khinh thường Hoa Kỳ nên Hoa Kỳ phải tuyên chiến để bảo vệ danh dự của mình. Các sử gia gọi đây là Cuộc Cách Mạng Giành Độc Lập Lần Thứ II và Hoà Kỳ cũng đã đạt được thắng lợi. Cuộc chiến vừa bùng nổ, Sam Houston ghi danh nhập ngũ ở Knoxville, Tennessee với cấp bậc binh nhì trong Đạo Quân Thứ 7 của Bộ Binh (7th Regiment of Infantry). Cuối năm 1812, ông leo lên cấp bậc chuẩn uý.!

Tháng 3 năm 1814, trong trận đụng độ ở Horseshoe Bend, Sam Houston bị thương. Ông được băng bó và ông trở lại chiến trường, nhưng ông bị người thổ dân nơi này bắn ông trúng thêm hai viên đạn ngay cánh tay và bả vai buộc lòng ông phải quay trở về Knoxville. Sau đó, ông được đưa đi New Orleans để chữa trị, và khi ông được chữa trị xong, vào tháng 3 năm 1817, ông rời quân ngũ.

Trở về lại Tennessee, ông học Luật với chánh án James Trimble 6 tháng, ông thi và đậu bằng hành nghề Luật. Ông mở văn phòng Luật ở Lebanon, Tennesse. Mở văn phòng Luật chưa được bao lâu thì ông được đề nghị làm công tố viên Khu Vực Nashville.

Năm 1822, ông đắc cử Dân Biểu Liên Bang. Lên trên Washington D.C., ông trở thành bạn thân và là người được Tổng Thống Andrew Jackson nâng đỡ. Năm 1827, thay vì ra tranh cử chức Dân Biểu, ông tranh ghế Thống Đốc và ông đánh bại đối thủ đương kiêm Thống Đốc William Carroll.

Năm 1828, lúc 35 tuổi, ông kết hôn với Eliza Allen, 18 tuổi, con gái của Đại Tá John Allen. Chính Đại Tá John Allen ép con gái mình phải chấp nhận hôn nhân này nên tình cảm của hai người không có kết quả. Chỉ vài tháng sau hôn nhân, Eliza Allen và Sam Houston ly hôn nhau. Sam Houston từ nhiệm chức Thống Đốc, ông vào chung sống với bộ tộc Cherokee mà ông đã làm quen lúc ông mới 12 tuổi. Tại bộ tộc Cherokee, ông kết hôn với một quả phụ tên là Tiana Rogers Gentry, và ông mở một ty bưu chính tại nơi này. Nhưng vì buồn bã với cuộc tình Eliza Allen, ông say sưa rượu chè tối ngày, bỏ bên công việc ở ty bưu chính làm cho Tổng Thống Andrew Jackson thất vọng về ông vô cùng.

Năm 1832, Sam Houston cùng với vợ là Tiana Rogers Gentry lên Washington D.C. Tại đây, Sam Houston rơi vào cuộc tranh cãi với Dân Biểu William Stanberry của tiểu bang Ohio. Dân Biểu Stanberry đi ra ngoài nói những điều không tốt về Houston, Houston nghe được, lập tức cầm cây gậy đón Stanberry ngay trên Đại Lộ Pennsylvania và đã dùng cây gậy này đánh Stanberry. Stanberry rút súng ra, nhắm bắn vào ngực Houston, bóp cò, nhưng may thay viên đạn đã lệch hướng. Ngày 17/4/1832, Quốc Hội ra lệnh bắt Houston về tội đánh Dân Biểu Stanberry. Ông bị kết án tội tấn công đánh người, nhưng nhờ sự can thiệp của các bạn bè có thế lực, ông chỉ bị cảnh cáo. Sau đó, Dân Biểu Stanberry tố Houston ở tòa dân sự, Houston thua và Tòa phạt Houston $500. Trong thời gian này, tin tức Houston hành hung Dân Biểu Stanberry đã làm cho thế đứng chính trị của Houston xuống dốc trầm trọng, Houston về gọi vợ Tiana Rogers Gentry dọn về Texas. Sam Houston nhất quyết không trả một xu nào cho Dân Biểu Stanberry do án lệnh dân sự của Tòa. Bà Tiana Rogers Gentry quyết định không theo ông xuống Texas, bà ở lại Tennessee, và sau này lập gia đình với ông Sam McGrady. Bà qua đời năm 1838 vì bệnh cúm hàn.

Tháng 12 năm 1832, Houston đến Texas, khi ấy là một phần đất của Mexico. Năm 1833, ông tham dự Đại Hội ở Nacogdoches và ông ủng hộ hai anh em William Harris Wharton trong chủ trương đấu tranh độc lập cho Texas. Chính vì chuyện này mà nhiều người nghi ngờ Sam Houston nhận lãnh sứ vụ bí mật do Tổng Thống Andrew Jackson trao để tìm cách tách Texas ra khỏi Mexico và có thể chuyện đánh nhau với Dân Biểu Stanberry là một khổ nhục kế. Tuy nhiên, tất cả chỉ là suy luận chớ không có một chứng cớ khách quan nào khác.

Năm 1835, ông tham dự Đại Hội Những Người Mỹ Sống Tại Texas (American Settlers In Texas) và ông được họ phong làm quân hàm Thiếu Tướng chỉ huy quân đội của họ chống lại Mexico. Ngày 3/2/1836, Texas tuyên bố độc lập, Mexico gởi Tướng Antonio Lopéz de Santa Ana đến dẹp loạn.

Ngày 21/4/1836, trong trận chiến San Jacinto, hiện nay cách xa Houston khoảng 15 miles, Sam Houston đã đánh bại và bắt sống Tướng Antonio Lopéz de Santa Ana. Sam Houston chỉ có 800 quân, nhưng ông đã dùng chiến thuật thần tốc và bất ngờ, phục kích giết chết và bắt toàn bộ 1600 quân của Tướng Antonio Lopéz de Santa Ana, trong khi đó Sam Houston chỉ có tổn thất 9 binh sĩ, nên toàn thể Mexico rúng động.

Sau khi Texas được độc lập, ngày 5/9/1836 Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của Cộng Hòa Texas, nhiệm kỳ 1836-1838, và ông Mirabeau B. Lamar (1798-1859) làm Phó Tổng Thống. Nhiệm kỳ sau, Sam Houston không ra tranh cử, ông Mirabeau B. Lamar đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ 1838-1841. Ngày 9/5/1840, lúc 47 tuổi, ông lập gia đình với Margaret Moffette Lea (11/4/1819-3/12/1867), 21 tuổi, và có 8 người con với bà. Vì một vài quan điểm bất đồng nên năm 1841 Sam Houston trở lại tranh cử và đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ 1841-1844.

Năm 1845, Texas gia nhập Liên Bang Hoa Kỳ, và năm sau, Sam Houston và Thomas Jefferson Rusk (1803-1857) là hai Thượng Nghị Sĩ đầu tiên của Texas lên Washington D.C. Sam Houston ở chức vụ Thượng Nghị Sĩ 13 năm, ông rời khỏi chức vụ này ngày 4/3/1859.

Trở về Texas năm 1859, ông được bầu vào chức Thống Đốc. Nội Chiến Hoa Kỳ bùng nỗ năm 1861 và kết thúc năm 1865. Ngày 1/2/1861, Quốc Hội Texas biểu quyết tách rời khỏi chính phủ Trung Ương phe miền Bắc được gọi là Unionists để gia nhập chính phủ phe miền Nam được gọi là Confederates. Sam Houston chống đối việc này, ông nhất định không chịu đọc lời tuyên thệ trung thành với chính phủ Confederates, thế là vào ngày 16/3/1861 Quốc Hội Texas truất phế ông, trao quyền Thống Đốc cho người phụ tá là ông Edward Clark (1815-1880).

Năm 1862, Sam Houston cùng với cả gia đình về ở Huntsville, Texas. Mùa đông năm đó ông bị cảm cúm nặng, và vào ngày 26/7/1863, ông qua đời tại nơi này. Hiện nay trên xa lộ xuyên bang 45 ở Huntsville, dân chúng đúc một bức tượng cao 67 feet (20m) để tưởng nhớ đến ông Sam Houston.

B. Lịch Sử Thành Phố Houston: Sam Houston là nhân vật lịch sử có công trạng nhiều với Texas, nhưng ông không phải là người sáng lập thành phố Houston. Sáng lập viên của thành phố Houston là hai anh em dòng họ Allen.

Augustus Chapman Allen (1806 – 1864) và người em là John Kirby Allen (1810 -1838) là hai nhà địa ốc trẻ từ New York về Texas vào năm 1932. Lúc đầu họ về ở một thị trấn nhỏ tên là St. Augustine, sau đó vào năm 1833, họ dời về Nagcodoches. Charlotte, vợ của Augustus, được hưởng gia tài với một số tiền khá lớn, thế là sau khi Texas được độc lập, đầu tháng 8/1836, bà giao cho chồng $9,428 để mua 6642 mẫu đất (27km2) dọc theo Buffalo Bayou từ bà T.F.L Parrot, vợ của John Austin, để xây dựng thành phố mới với danh xưng Houston ngõ hầu tôn vinh Sam Houston đánh bại Mễ Tây Cơ đem lại độc lập cho Texas.

Ngày 15/8/1836, John Kirby Allen qua đời vì một cơn sốt nặng, lúc đó mới 28 tuổi, chưa vợ chưa con, và người ta đã bùi ngùi chôn cất ông ở nghĩa trang của những người sáng lập nên thành phố Houston. Sau cái chết của John, Augustus có nhiều tranh cãi với vợ l à Charlotte, đa số liên quan đến tài chánh, nên năm 1850, ông ly dị vợ rồi dọn qua Mexico. Năm 1852, Hoa Kỳ cử ông Augustus Chapman Allen làm Lãnh Sự ở Cãng Tehuantepec. Năm 1865, biết rằng sức khỏe ông suy kiệt, Augustus vội vàng trở về Washington D.C để trao trả lại chức vụ Lãnh Sự, và khi đến Washington D.C không được bao lâu thì ngày 11/6/1864 ông qua đời vì bệnh cúm hàn. Hiện nay, Houston còn mang nhiều dấu ấn của hai anh em dòng họ Allen như Allen’s Landing Park, Allen Parkway, Allen Center, Kirby Drive, v.v.
Khi mua xong 6642 mẫu đất, hai anh em Allen thuê Gail Borden Jr. (1801-1874) vẽ họa đồ khảo sát (surveyor) và vẽ sơ đồ xây dựng Houston. Gail Borden Jr. là một người đa tài, ông là một nhà họa đồ khảo sát, một phóng viên, một nhà báo, và sau này còn là một nhà sáng tạo và thương gia thành công. Năm 1856, ông sáng chế ra sữa đặc (condensed milk) đóng hộp và từ đó ông thành lập ra hãng Borden chuyên về các loại bơ sữa (dairy products) nổi tiếng trên cả thế giới cho đến ngày hôm nay.

Lúc mới thành lập, Houston chỉ như một cái ấp nhỏ gồm gia đình của dòng họ Allen, nhưng chỉ trong một năm, nó đã lên tới con số ngàn. Tháng Giêng năm 1837, Laura là chiếc tàu đầu tiên cặp bến Houston. Ngày 5/6/1837, Texas quyết định chọn Houston là Thủ Đô của Cộng Hòa Texas. Lúc này Texas là một quốc gia tân lập và độc lập, chưa phải là một tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Thời gian đầu, Houston là một làng vô luật lệ và bệnh dịch lan tràn nên nhiều thương gia giàu có ngại ngùng bỏ đi. Khi ấy, đất của Houston ẩm thấp và đa số là đầm lầy, muỗi nhòng rất nhiều, và khoa học chưa tiến bộ để triệt hạ những con muỗi mang đầy dịch bệnh đó nên đây là một tai họa cho cư dân Houston. Chỉ trong 2 năm, 12% dân số Houston bị tử vong do các bệnh dịch. Đó cũng là một trong những lý do Texas quyết định dời đô vào ngày 14/1/1839. Nhưng năm 1840, 7 thương gia Thomas M. Leauge, Henry R. Allen, George Gazely, John w. Pitkin, Charles Kesler, E.S. Perkins, và Dewitt C. Harris ngồi lại với nhau thành lập Phòng Thương Mại Houson (Houston Chamber of Commerce) để hồi sinh lại cái làng non trẻ èo uột này.

Ngày 9/1/1842, Quốc Hội Texas thông qua Đạo Luật Xây Cảng Houston, chi $2000 để Houston vét cống rãnh đào sâu Buffalo Bayou để nước thoát dễ dàng tránh cảnh lụt lội khi mưa lớn. Năm đó, Mexico hăm dọa tiến quân đánh Austin, ngày 27/6/1842, Tổng Thống Sam Houston quyết định dời đô về lại Houston. Nhưng, vào ngày 29/9/1842, để tránh thiệt hại cho Houston, Texas quyết định dời đô về thị trấn nhỏ là Washington On-The-Brazos và sau đó năm 1844 lại dời về Austin, từ đó Austin là Thủ Phủ cho tới ngày hôm nay.

Năm 1845, Texas gia nhập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Năm 1848, người Đức di dân đến Texas, và nhiều người đến Houston. Di dân Đức có học, thông minh, và cần cù nên họ đã thay đổi diện mạo của Houston. Người Đức làm đủ ngành nghề, họ trồng trọt chăn nuôi, chế tạo máy móc nông nghiệp và công nghiệp nên chẳng bao lâu khu vực nam Texas trù phú. Lúc này, những người da trắng hoặc người Đức di dân thành công cần sức lao động trong các cánh đồng trồng lúa (Rice, từ Đại Học Rice cho đến cả khu vực tây bắc Houston của đoạn đường 290) mía (Sugar Land), lê (Pearland), vải sợi nên họ mua nhiều ngàn người da đen từ các tiểu bang khác về làm nô lệ làm việc trong các cánh đồng này. Dân số khu vực này bắt đầu tăng nhanh chóng.

Năm 1861, Nội Chiến Hoa Kỳ bùng nỗ, Texas quyết định gia nhập phe miền Nam, the Confederacy, chống lại phe miền Bắc, the Unions. Sam Houston cực lực phản đối việc này, ông không chịu ký vào bản tuyên thệ trung thành với chính phủ miền Nam; do đó, Quốc Hội Texas truất phế ông khỏi chức vụ Thống Đốc, trao quyền cho người phụ tá. Ngày 4/10/1862, Cảng Galveston bị phe miền Bắc bao vây nên kinh tế của Houston lâm vào khủng hoảng. Ngày 1/1/1863, phe miền Nam dưới sự lãnh đạo của Tướng John B. Magruder (1807-1871) chiếm lại Galveston thì Houston bớt lâm vào cảnh khó khăn.

Nội Chiến Hoa Kỳ chấm dứt năm 1865, Texas bị chính phủ Liên Bang đặt trong tình trạng giám sát chặt chẽ vì đã tham gia vào nhóm phản loạn. Ngày 16/4/1870, Texas mới được chấp thuận trở lại là một tiểu bang trong quy chế Liên Bang. Liên Bang nhận ra vai trò quan trọng của Houston ở phía nam nên hỗ trợ xây cất để Cãng Houston có khả năng đón nhận nhiều tàu chuyên chở. Nhờ sự hỗ trợ này, Houston lớn mạnh cách nhanh chóng. Năm 1880, hai tờ báo lớn của Houston là Houston Post và Houston Chronicle ra đời. Houston Post đình bản ngày 18/4/1995 và đã được Houston Chronicle mua lại tất cả tài sản, nhưng sau đó, Houston Chronicle cho nghỉ việc hầu hết các nhân viên của Houston Post để trở thành tờ báo lớn nhất của Houston mà không có đối thủ.

Thập niên 1880s, Houston bùng phát lên nên Houston bắt đầu xây dựng đường xá lớn cũng như xây dựng một đường rày xe lửa nối liền New Orleans. Nhờ những xây cất hạ tầng này, kinh tế của Houston bắt đầu ổn định. Chính sự ổn định kinh tế của Houston đã thu hút các dịch vụ khác đổ dồn về Houston. Năm 1887, các sơ Nữ Tử Bác Ái của Dòng Ngôi Lời Nhập Thể (Sisters of Charity of the Incarnate Word) mở bệnh viện St. Joseph ngay dưới phố và bệnh viện này tồn tại tới hôm nay.

Năm 1893, ông George H.Herman dâng cúng đất để xây dựng Texas Medical Center và hệ thống Herman Memorial Hospital đã được đặt tên để tưởng nhớ công đức của ông. Hệ thống này hiện nay rất lớn mạnh ngày càng lớn mạnh bao trùm cả khu vực Nam Texas.

Năm 1898, đứng trước bối cảnh Hoa Kỳ có chiến tranh với Tây Ban Nha, dân chúng Houston vận động Quốc Hội Liên Bang chấp thuận ngân khoản nới rộng Cãng Houston và Buffalo Bayou để các tàu chiến có thể cập bến tại nơi này. Quốc Hội Liên Bang chấp thuận, thế là Houston đã phát triển lại càng phát triển hơn.
Ngày 9/9/1900, cơn bão cấp 4 với 135 mph đánh ập vào Galveston và Houston làm khoảng từ 6 ngàn tới 12 ngàn người tử thương và mất tích, đánh thiệt hại nặng nề con cầu nối đảo Galveston với đất liền mà bây giờ được gọi là I45, từ đó làm xáo trộn và thay đổi cả bộ mặt của Houston. Kinh tế của Houston xuống dốc trầm trọng, nhưng may thay vào đầu năm 1901, người ta khám phá ra dầu hỏa ở Beaumont và cả khu vực nam Texas. Một kỹ nghệ mới được ra đời để đáp ứng nhu cầu cho kỹ nghệ xe và máy bay vừa được sáng chế. Pasadena và Baytown được chọn làm nơi lọc dầu, và chính nơi này đã làm cho Houston nổi danh là Thủ Đô Nhiên Liệu Của Thế Giới. Năm 1910, dân số Houston bắt đầu vượt qua mặt dân số của Galveston.
Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, lúc đó với danh xưng là Bộ Chiến Tranh, sử dụng Cãng Houston để đóng thêm các tàu chiến nên Houston trở nên phồn thịnh. Năm 1917, Bộ Quốc Phòng quyết định xây dựng Camp Logan để huấn luyện quân đội ở Memorial Park và Sân Bay Quân Sự Ellington Field.

Ellington Field tồn tại cho đến ngày hôm nay. Camp Logan để lại một vết nhăn trong lịch sử vì ngày 23/8/1917, hai quân nhân da đen canh gác Camp Logan ra ngoài đường gặp 2 cảnh sát viên Houston da trắng bắt gặn tra một phụ nữ da đen với những lời hách dịch kỳ thị. Hai người can thiệp, lập tức bị cảnh sát bắt. Hạ sĩ da đen Charles Baltimore đến đồn cảnh sát để hỏi chuyện về các đồng đội của mình, bị một cảnh sát dùng cây ba-toong cú trên đầu, ông sợ hãi bỏ chạy thì bị cảnh sát rượt bắn. Hạ Sĩ Baltimore không chết nhưng nhiều người hiểu lầm ông đã bị bắn gục nên tin truyền đi nhanh chóng đến các binh sĩ da đen, thế là họ nổi loạn và lịch sử gọi là Houston 1917 Riot. Trong cuộc nổi loại này, 15 người da trắng bị giết chết trong đó có 4 cảnh sát viên. Bốn binh sĩ da đen cũng bị sát hại. Sau cuộc nổi loạn này, Tòa Án Quân Sự (Courts Martial) xử tử hình 14 quân nhân da đen và 41 quân nhân da đen bị kêu án chung thân.

Năm 1922, nhà triệu phú George Hermann dâng hiến đất cho Houston để thành lập Hermann Park. Công viên này vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Năm 1927, nhiều xa lộ xuyên bang bắt đầu xây cất xuyên qua Houston. Cũng trong năm đó, Houston Junior College được thành lập sau này trở thành University of Houston. Năm 1929, công ty Sears đến Houston làm ăn phát đạt. Thế rồi Thứ Ba Đen 29/10/1929 đến làm cho cả Hoa Kỳ nói chung và Houston nói riêng điêu đứng.

Năm 1932, chương trình Rodeo được mở ra đầu tiên ở Houston. Năm 1935, cơn lụt lớn ở Houston làm cho dân chúng ý thức phải đào sâu thêm cống rãnh thoát nước. Năm đó hai công ty hàng không Braniff Airways và Eastern Air Lines mở tuyến bay đến Houston.

Bước vào thập niên 1940s, Hoa Kỳ tham gia Đệ Nhị Thế Chiến, Cãng Houston trở thành nơi đóng các tàu chiến, chuyển hàng hóa và dụng cụ chiến tranh nên Houston phát triển rầm rộ.

Năm 1950, phi trường dân sự Hobby được xây cất xong, và nơi đây đã được đặt tên là Houston International Airport. Nhưng tới năm 1969, dân số Houston đã gia tăng nên thành phố quyết định xây Houston Intercontinental Airport, và giờ đây được đặt tên là George Bush International Airport, viết tắt là IAH. Cả hai phi trường hiện vẫn còn đang hoạt động, Hobby là đầu não của hãng Southwest Airline và chỉ phục vụ nội địa, trong khi đó IAH là đầu não của Continental Airline phục vụ nội địa và trên toàn thế giới.

Ngày 4/7/1962, nhân dịp Lễ Độc Lập, Trung Tâm Nasa được khánh thành. Trung tâm này mang lại vài chục ngàn công việc cho Houston nên Houston đã phát triển càng phát triển thêm. Tháng 4/1965, Houston mở tiệc mừng Astrodome được xây cất xong.

Đầu thập niên 1970s kỹ nghệ dầu hỏa bùng nổ lớn nên dân chúng ùn ùn nhau kéo về Houston. Trung bình mỗi tuần có thêm 1000 cư dân mới. Cuối năm 1979, khủng hoảng nhiên liệu diễn ra, nhiều người không có việc làm, họ bỏ nhà cho ngân hàng dọn đi nơi khác nên nhiều căn nhà được cho không với điều kiện tiếp tục trả tiền nợ ngân hàng mà không ai lấy. Houston rút tỉa kinh nghiệm, họ xoay xở để kinh tế của thành phố trở thành đa dạng, nhất là tập trung vào kỹ nghệ mới là điều hành và điện toán nên dần dà Houston đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Không những thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế, Houston còn vươn mình lên cách lẹ làng làm cho cả thế giới phải ngạc nhiên.

Năm 1975, di dân người Việt đầu tiên đến Houston, lúc đầu quay quần tại Giáo Xứ Đức Mẹ Mân Côi ở đường Travis dưới phố do linh mục Nguyễn Hữu Dụ làm tuyên uý. Từ tụ điểm này, người Việt mở các quán ăn và các thương xá, lan dần xuống hai bên đường Milam và Travis. Năm 1983, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận được chính thức thành lập, tới năm 2008 được 25 năm, trải qua các đời chủ tịch như sau: 1/ Đại Tá Nguyễn Văn Nam; 2/ Bác Sĩ Trần văn Tính; 3/ ông Nguyễn Cao Mỹ; 4/ bà Kim Nguyễn; 5/ bác sĩ Nguyễn Ngọc Quyết; 6/ ông Đỗ Minh Đức và 7/ Hoàng Duy Hùng. Cộng Đồng người Việt ở Houston đã có lần tưởng vỡ ra làm 2 thời ông Nguyễn Cao Mỹ và ông Đỗ Minh Đức, may thay mọi chuyện được ngăn chận kịp thời nên Houston hiện nay chỉ có một Hội Đồng Đại Diện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia. Thời ông Nguyễn Cao Mỹ, Thị Trưởng Lee Brown đồng ý đặt tên khu vực Midtown là Vietnam Town, chấp thuận cho gắn bảng tên đường bằng tiếng Việt song song với tiếng Anh. Nhưng đầu năm 2000, người da trắng trả giá cao ở Midtown nên người Việt bắt đầu dọn về Sharpstown, đặc biệt trải dài trên đường Bellaire nên dần dà Vietnam Town ở dưới phố không còn nữa, chỉ còn lại vài ba nhà hàng, đa số các chợ búa như Chợ Hòa Bình đã bị san bằng để xây cất những khu chợ mới của người Hoa Kỳ.

Theo thống kê năm 2006, Houston có khoảng 2.2 triệu dân, và các vùng phụ cận có thêm khoảng 2.3 nữa. Trong số này có khoảng 85 ngàn cư dân Việt ở trong quận hạt Harris và khoảng vài chục ngàn ở các vùng phụ cận. Người ta dự trù trong vòng 20 năm tới, dân số Houston và các vùng phụ cận sẽ tăng lên gấp đôi. Với những con số như vậy, Houston là đất đầy hứa hẹn cho những người muốn phiêu lưu lập nghiệp.

II.Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Kỳ VIII:

Tối thứ Tư ngày 10/12/2008 một cơn gió bấc thổi tràn xuống Houston lạnh buốt và tuyết đã rơi. Đây là một trong những lần tuyết rơi hiếm hoi nơi thành phố nắng ấm này. Lần trước, cách đây vài năm, tuyết rơi vào đúng đêm Noel làm những ai đi Lễ Vọng Giáng Sinh về cảm thấy rất thích thú. Năm nay tuyết rơi sớm hơn, các trẻ em liền nhào ra ngoài chơi với tuyết cho thỏa chí thèm được hưởng cảnh kỳ diệu này.

Tối thứ Sáu một cơn gió nồm thổi ngược lên, khí hậu Houston ấm áp trở lại. Các văn thi hữu từ phương xa đến đã được Ban Tổ Chức đón rước và mời đi ăn ở Sài Gòn Noodle House. Trong bữa cơm thân tình này, mọi người trao đổi với nhau như một hình thức Tiền Hội Nghị. Sang ngày Thứ Bảy, khí hậu Houston tuyệt đẹp. Trong bầu không khí nắng ấm chan hòa, Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Kỳ VIII đã được diễn ra ngay tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận, 7100 Clarewood Dr., Houston TX 77036.

Văn Bút Quốc Tế và rất nhiều người Việt ở trong và ngoài nước theo dõi Đại Hội này chỉ vì trước đây Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại gặp cơn khủng hoảng tưởng chừng con thuyền Văn Bút đã bị chìm đắm. Ai cũng biết Văn Bút Quốc Tế là một tổ chức phi chính phủ (NGO) và vô vị lợi, nhưng tổ chức này có tầm vóc quốc tế ảnh hưởng trên mọi quốc gia, nhất là vấn đề nhân quyền, nên đây là cơ chế quốc tế sau cùng để người Việt Quốc Gia có tiếng nói của mình. Nếu Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại không vượt qua được cơn khủng hoảng này và phải bị Văn Bút Quốc Tế cho đi ngủ yên như năm 1996 thì đó là một cái tát đau đớn vào sự tự trọng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản.

Để giải quyết khủng hoảng, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đồng ý với Văn Bút Quốc Tế phổ thông đầu phiếu, ứng cử đơn danh vào từng chức vụ, tất cả các thành viên đã đóng niên liễm không phân biệt phe phái đều có thể ứng cử và bầu cử. Hạn chót để đóng niên liễm và gởi phiếu bầu được gia hạn tới ngày 1/12/2008. Ban Tổ Chức Bầu Cử gồm có 5 người: 1/ nhà văn Sơn Tùng; 2/ Tiến sĩ Tạ Cự Hải, 3/ họa sĩ Vũ Quang Minh; 4/ nhà văn Nguyễn Văn Thông; và, 5/ cựu chủ tịch sáng lập Minh Đức Hoài Trinh.

Đến dự Đại Hội, ngoài các vị đại biểu, còn có sự quan sát của các cơ quan truyền thông báo chí như Đài SBTN, Đài Sài Gòn 900 AM, Đài Sài Gòn Dallas 890 AM, báo Xây Dựng, báo Thế Giới Mới v.v. Để có một cái nhìn nghiêm túc về sinh hoạt của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Văn Bút Quốc Tế cử hai người đến giám sát Đại Hội. Hai vị đó là nhà văn Adam Sommers và Tiến Sĩ Nguyễn Viết Đức. Tiến Sĩ Nguyễn Viết Đức là người Việt, nhưng ông tham gia Văn Bút của Hoa Kỳ, Trung Tâm Miền Tây. Ông Adam Sommers là Chủ Tịch Ban Chấp Hành của Văn Bút Hoa Kỳ Trung Tâm Miền Tây. Tất cả mọi trao đổi trong Đại Hội đều được dịch sang tiếng Anh hoặc từ tiếng Anh sang tiếng Việt để mọi người cùng nắm bắt tất cả những diễn tiến trong Đại Hội.

Phần nghi thức của Đại Hội được điều khiển bởi nghệ sĩ Phan Đình Minh. Sau phần nghi thức, nhà văn Nguyễn Thế Giác, Chủ Tịch Khu Vực Nam Hoa Kỳ của VBVNHN, với tư cách Trưởng Ban Tổ Chức, lên đọc diễn văn khai mạc và chào mừng Đại Hội. Ông kêu gọi mọi người vì việc chung gác bỏ lại mọi dị biệt để chung sức xây dựng Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại có uy tín và vững mạnh.

Sau phần phát biểu của văn hữu Nguyễn Thế Giác, văn hữu Túy Hà giới thiệu các đại biểu của các khu vực đến tham dự Đại Hội.
Tiếp theo, văn hữu Sơn Tùng, với tư cách là Chủ Tịch Ban Chấp Hành Trung Ương của VBVNHN cũng như Trưởng Ban Tổ Chức Bầu Cử, phát biểu cảm tưởng của ông khi đến tham dự Đại Hội. Ông nhấn mạnh VBVNHN có thể có bất đồng nhưng không tranh chấp. Theo ông, bằng chứng hùng hồn nhất chính là sự hiện diện trong Ban Tổ Chức Bầu Cử của họa sĩ Vũ Quang Minh trong Liên Danh 2 trước đây cũng như sự tranh cử vào chức Chủ Tịch của văn hữu Vũ Văn Tùng. Ông kết luận đã đến lúc những ai muốn khuấy đục VBVNHN nên dừng tay lại và mọi người đóng lại trang sử đen tối để đưa VBVNHN vào bình minh tươi sáng hơn.

Sau phần phát biểu của văn hữu Sơn Tùng, theo yêu cầu của hai vị giám sát từ Văn Bút Quốc Tế, các đại biểu tự lần lượt giới thiệu về cá nhân mình.
Đại Hội bầu ra Ban Kiểm Phiếu gồm 5 người: 1/ nhà văn Sơn tùng; 2/ họa sĩ Vũ Quang Minh; 3/ nhà văn Vũ Châu Sa; 4/ nhà báo Trương Sĩ Lương; và, 5/ nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn. Đại Hội cũng biểu quyết đề tài túc số. Ban Kiểm Phiếu làm việc rất khách quan và công bằng, sau 2 tiếng kiểm phiếu, đã có kết quả. Chức vụ Chủ Tịch có 2 người tranh cử đó là văn hữu Nguyễn Đăng Tuấn và dược sĩ Vũ Văn Tùng. Văn hữu Nguyễn Đăng Tuấn được 110 phiếu, đắc cử Chủ Tịch. Các chức vụ khác, mỗi một chức vụ chỉ có một người tranh cử nên kết quả như sau: Phó Chủ Tịch 1 Đào Vĩnh Tuấn 141 phiếu; Phó Chủ Tịch 2 Ngô Sỹ Hân 138 phiếu; Tổng Thư Ký Yên Sơn 150 phiếu, và Thủ Quỹ Cung Vũ 140 phiếu. Kết quả này đã được toàn thể Đại Hội chứng nhận dưới sự giàm sát của 2 thành viên Văn Bút Quốc Tế. Văn hữu Vũ Văn Tùng vui vẻ bắt tay Chủ Tịch Đắc Cử Nguyễn Đăng Tuấn, hứa sẽ cộng tác với Tân Ban Chấp Hành, và văn hữu Nguyễn Đăng Tuấn mời văn hữu Vũ Văn Tùng vào Ban Cố Vấn.

Văn hữu Sơn Tùng có bài diễn văn trao quyền, bày tỏ sự vui mừng của ông khi ông đã lèo lái con thuyền Văn Bút vượt qua sóng gió đến bến bờ bình yên. Ông mong mỏi mọi người tôn trọng nguyên tắc dân chủ và chính nguyên tắc này sẽ là kim chỉ nam đưa con tàu Văn Bút đến chân trời sáng lạn. Ông Adam Sommers thay mặt cho Văn Bút Quốc Tế chúc mừng VBVNHN, ông cho rằng Đại Hội diễn ra trong tinh thần dân chủ và rất chuyên nghiệp. Ông hứa sẽ về phúc trình với Văn Bút Quốc Tế một cách đầy đủ. Tiến sĩ Nguyễn Viết Đức thay mặt cho VBQT trao bằng tưởng lục cho văn hữu Sơn Tùng vì đã có công lèo lái con thuyền VBVNHN tới bến bờ bình an.

Sau cơm trưa, Đại Hội tiếp tục họp. Tân Chủ Tịch Nguyễn Đăng Tuấn phát biểu sẽ vạch định kế hoạch và thành lập các ủy ban trong nay mai để tạo sinh khí hoạt động cho Văn Bút. Đại Hội biểu quyết trao cho Khu Vực Tây Bắc Hoa Kỳ tổ chức Đại Hội Kỳ IX tại Bắc California vào năm 2011.

Để chúc mừng Tân Ban Chấp Hành, một bữa tiệc linh đình được diễn ra tại nhà hàng Thiên Phú vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật. Dân biểu Hubert Võ và hầu hết các vị có uy tín trong Cộng Đồng đều đến tham dự để chung vui với Văn Bút. Đây chính là một hình ảnh đẹp hứa hẹn một tương lai đoàn kết và tươi sáng cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Lời Kết: Cổ nhân có nói đất lành chim đậu. Thành phố Houston chắc được sự chúc phúc này nên chung quanh thành phô có rất nhiều đàn chim cả hàng bao nhiêu ngàn con đậu trên các lùm cây, các đường dây điện, và cả trên các cánh đồng. Chim hót líu lo thấy khung cảnh êm đẹp và thanh bình. Chính vì đất lành này nên Houston càng ngày càng đông dân làm ăn phồn thịnh. Năm nay, cả nước Hoa Kỳ đang liểng xiểng vì nền kinh tế trì trệ, nhưng riêng Texas và đặc biệt tại Houston nền kinh tế vẫn còn ở mức phát triển không đến nỗi thiệt hại nặng nề. Hy vọng đất lành của Houston là chất xúc tác tạo sự hàn gắn lại của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vì chính nơi này đã đón chào và ôm ấp Đại Hội VIII, Đại Hội của sang trang trong tinh thần cởi mở và tôn trọng nguyên tắc dân chủ dưới sự giám sát của quốc tế. Được như vậy đó là vinh phúc của Houston, thành phố của tình người./.

Houston ngày 18/12/2008.

Copyright © 2008 - All rights reserved.