bao the gioi


GỠ RỐI: 10-03-2011
Anh Tư


MỠ TRONG MÁU

Anh Tư thân mến: Tôi dđi khám và thử máu, bác sĩ nói tôi bị cao mỡ. BS chỉ bảo cử ăn cơm và mỡ, cho uống Lovastatin 20mg mỗi ngày một viên, và không giải thích gì thêm (có lẽ bận bịu).

Vậy kính nhờ Anh Tư giải thích, cho ý kiến thêm:

1)Mỡ trong máu chỉ số như thế nào thì tốt và như thế nào thì cao, có hại đến cơ thể?

2)Nếu cử bớt cơm thì ăn bún, phở, miến,.. có được không?

3)Thực phẩm và trái cây loại nào tốt, loại nào nên kiêng? Tôi có uống viên tỏi, nghệ có được không?

4)Tôi nay đã 61 tuổi, vấn đề kia hơi yếu, có khi 2 tuần mới được, đôi khi cũng trầy trật. Vậy theo Anh Tư thì tôi nên ăn uống và dùng loại thuốc gì để khá hơn một tí trong vấn đề đó. Thành thật cảm ơn Anh Tư nhiếu. (Hưng KBC 3970)

Ông Hưng thân mến:

Về vấn đề y tế, ông nên hỏi bác sĩ gia đình. AT không phải bác sĩ, và cũng không có hồ sơ bệnh lý của ông, không tiện đi sâu vào chi tiết. Nếu ông hỏi mà bác sĩ không giải thích, ông nên tìm bác sĩ khác.

1) Một cách đơn giản vòng ngoài, khi bác sĩ bảo ông cử cơm, tôi đoán là ngoài mỡ trong máu cao, có thể lượng đường trong máu của ông cũng cao. Vài cách tính chỉ số mỡ khác nhau giữa các nhóm y khoa trên thế giới, ông nên hỏi bác sĩ của ông.

2)Cử cơm, ông có thể ăn cơm gạo lức (brown rice), bún, lúa mạch (oat).

3)Về trái cây, các thứ tốt cho ông là táo (apple). Rau thì rau cần, nấm mèo đen, nấm rơm (thuốc lovastatin lấy từ nấm hàu – oysters mushroom). Ông có thể uống thêm dầu cá (viên). Thuốc tỏi cũng tốt.

Quan trọng nhất, ông phải tập thể dục, đi bộ đều đặn mỗi ngày để hệ thống tuần hoàn làm việc hữu hiệu.

4) Ông 61 tuổi, “trèo núi” 2 tuần một lần thì là trung bình. Vấn đề “thằng nhỏ không chiều thằng lớn”, về thuốc tây, ông phải hỏi bác sĩ vì còn tuỳ vào sức khoẻ con tim của ông. Về thuốc thiên nhiên, ông có thể dùng bột nấm linh chi (Reshi, của hãng Pola) hay thuốc viên Total Energy (hãng Jamieson, mua ở quầy thuốc thiên nhiên).

Việc dùng thuốc thiên nhiên cần phải điều độ, thường xuyên là lâu dài (30 ngày tới 90 ngày mới bắt đầu có hiệu quả).


HỌ VÀ TÊN VIỆT

Anh Tư thân mến: Tôi nghe nói hồi thế kỷ trước, người Nhật chưa có họ, đúng không? Người Tàu và người Việt có họ từ bao giờ? Và từ hồi nào bắt đầu làm gia phả? Tôi sắp có cháu, nên đặt tên như thế nào cho dễ gọi? (Người tò mò, Dallas)

Người tò mò thân mến: Thực ra, người Nhật đã có họ từ xưa, nhưng chỉ có các nhà quí tộc và kiếm khách (samurai) mới được quyền có họ. Từ 1872 về sau, thường dân Nhật bắt đầu có họ.

Người Trung hoa có họ từ năm 2852 trước tây lịch. Vua Phục Hi ra lệnh cho dân chúng phải có gia tính, tộc tính. “Tính” là họ gốc, cha truyền con nối, do vua ban và truyền cho nam giới.

Quốc tính đầu tiên của Việt Nam là họ Hồng Bàng, và 139 họ thường dân. Các họ lớn là Thục, Trưng, Triệu, Mai, Khúc, Lý, Nguyễn, Phùng, Kiều, Ngô, Ðinh, Lê, Trần, Hồ, Mạc và Trịnh.

Bên Tàu, gia phả (thế bản) có từ thời nhà Chu (111-256 trước tây lịch). Tại Việt Nam, gia phả đầu tiên còn lưu truyền, bắt đầu từ 1026 thời Lý Thái Tổ (Hoàng triều ngọc điệp).

Ông ở Mỹ, nếu muốn lấy tên hoàn toàn Việt Nam, nên đặt theo những chữ mà cả Việt lẫn Mỹ đọc như nhau: An, Ân, Ban, Can, Cần, Cấn, Cẩn, Bắc, Đinh, Định, Đình, Đông, Đồng, Nam, Kim, Khai, Khải, Lan, Lân, Liem, Phan, San, Việt, Viết, Yên, Yến,.. Để ý tránh những chữ khi viết không dấu, thành những chữ bất diệu trong tiếng Anh: Dũng thành /dung/: phân thú vật; Phúc đọc lên nghe như /fuck/, một tiếng tục; Hùng, Hưng thành /hung/: bị treo; Loan thành /loan/; nợ; Cao thành /cow/: bò cái,..


HỌ NGUYỄN

Anh Tư thân mến: Tại sao Việt Nam có nhiều người họ Nguyễn như thế? Có phải ở ngoài Bắc có tới 50% dân số mang họ Nguyễn? (Thắc Mắc, Houston)

Thắc Mắc thân mến: Việt Nam có nhiều người họ Nguyễn vì tất cả những nguyên nhân sau đây hợp lại:

- Đời Trần Thái Tông, năm 1232, sau khi soán ngôi nhà Lý cho cháu, Trần Thủ Độ muốn tiêu diệt họ Lý, đã ra lệnh cho tất cả những ai mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Con cháu nhà Lý có một số nhỏ trốn lên mạn ngược, đổi thành họ Phí và họ Phó để ẩn danh; một số chạy sang Cao Ly (Triều Tiên, Hàn quốc), sau nhập vào họ Lee ở nước này.

- Năm 1592, nhà Mạc suy sụp, sợ con cháu nhà Lê trả thù, những người họ Mạc tự đổi thành họ Nguyễn.

- Từ 1802, nhà Nguyễn có tục phong quốc tính (họ Nguyễn) cho công thần và dòng dõi.

- Vì họ Nguyễn rất đông, nên những người vì lý do nào đó phải trốn lánh thường đổi sang họ Nguyễn để sống lẫn lộn dễ hơn.

Ở miền Bắc Việt Nam hiện nay, trong dân chúng có 48,136% họ Nguyễn; ở miền Nam có 27,8% họ Nguyễn.


ĐẾ HỆ THI

Anh Tư thân mến: Sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, làm bài Đế Hệ Thi để con cháu sau này theo đó mà đặt tên để khỏi lẫn với con cháu của các các hoàng tử khác. Xin Anh Tư chép lại giùm bài thơ này vì tôi nhớ không hết, chỉ nhớ câu đầu là “Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh”. Xin cho thí dụ.

Con cháu của Minh Mạng thì thế còn con cháu của các hoàng tử khác thì sao, muốn đặt sao thì đặt hay họ cũng làm bài thơ khác mà dùng? Lại còn họ “Tôn thất” với “Tôn nữ”? (Nguyễn An, San Antonio)

Nguyễn An thân mến: Bài Đế hệ thi như sau:

Miên Hồng (Hường) Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Ðịnh Long Trường
Hiền Năng Khang Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương

Thí dụ: Miên Tông (Thiệu Trị), Miên Thẩm Tùng Thiện Vương, Miên Trinh Tuy Lý Vương

Hồng Nhậm (Tự Ðức), Hồng Bảo (nổi loạn năm 1848), Hồng Dật (Hiệp Hòa)

Ưng Trình, Ưng Quả, Ưng Kỳ, Ưng Lịch (Hàm Nghi), Ưng Thuyên Bửu Ðảo (Khải Ðịnh), Bửu Lân (Thành Thái), Bửu Lộc, Bửu Hội Vĩnh San (Duy Tân), Vĩnh Thụy (Bảo Ðại), Vĩnh Lộc Bảo Long, Bảo Quốc, v.v.

Ngoài bài Đế hệ thi dành cho con cháu mình, vua Minh Mạng còn làm 10 bài “Phiên hệ thi” dành cho con cháu các hoàng tử anh em của ông, tới nay còn lưu lại được 4 bài, vì 6 dòng kia dần dần tuyệt tự.

1)Anh Duệ Hoàng Thái tử (Nguyễn-Phúc Cảnh, hoàng trưởng tử của vua Gia Long):

Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
Liên Huy Phát Bội Hương
Linh Nghi Hàm Tấn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang

Hoàng tử Cảnh mất khi 22 tuổi, ông có hai con trai: Mỹ Ðường bị chú là Minh Mạng kết tội và giáng làm dân đinh, con cháu chỉ được phụ chép vào sau tôn phả, và người con thứ hai Mỹ Thùy mất sớm.

Thí dụ: Cường Ðể và các con ông là Tráng Cử, Tráng Liệt, Tráng Ðinh thuộc nhánh này.

2) Kiến An Vương (hoàng tử thứ năm):

Lương Kiến Ninh Hòa Thuật
Du Hành Suất Nghĩa Phương
Dưỡng Dĩ Tương Thức Hảo
Cao Túc Thể Vi Tường

Kiến-An quận-công Lương Viên cũng như ông Hòa Giai và con Thuật Hanh, Thuật Hy thuộc phòng này.

3) Ðịnh-Viễn Quận-vương (hoàng tử thứ sáu):

Tĩnh Hoài Chiêm Viễn Ái
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha
Nghiêm Khắc Do Trung Ðạt
Liên Trung Tập Bát Da

Ông Tĩnh Cơ cũng như Chiêm Nguyên và các con Viễn Ngô, Viễn Cẩm, Viễn Tống hay ông Chiêm Tân và con Viễn Bào đều thuộc nhánh này.

4) Từ-Sơn Công (hoàng tử thứ mười ba):

Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
Phu Văn Ái Diệu Dương
Bách Chi Quân Phụ Dực
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương

Từ Ðàn, Thể Ngô cũng như giáo sư Dương Kỵ và con là Quỳnh Trân, ông Dương Thanh và con Quỳnh Nam đều là hậu duệ con trai út của vua Gia Long.

Họ “Tôn thất” cũng là hậu duệ của Triệu-tổ Tịnh Hoàng-đế Nguyễn Kim, nhưng không thuộc ngành vua Gia Long.

Riêng về nữ giới hậu duệ của vua Minh Mạng thì dùng các cách gọi sau đây, thay đổi theo thứ tự thế hệ:

Công chúa: chị em vua Minh Mạng
Công nữ: con của vua
Công tôn nữ: cháu của vua
Công tằng tôn nữ : chắt của vua
Công huyền tôn nữ: chít của vua
Lai huyền tôn nữ: con của chít của vua Minh Mạng.

Anh Tư

Copyright © 2008 - All rights reserved.