bao the gioi


“Trò Chuyện Với Lan Chi”: GS Bùi Tiến Rũng
Hoàng Lan Chi


LGT: Kỳ này xin giới thiệu GS Bùi Tiến Rũng, từ Montreal Canada nói chuyện về giáo dục đại học. GS Bùi Tiến Rũng nguyên là Trung Tá Kỹ Sư Hải Quân, du học Hoa Kỳ về nước năm 1964 và năm 1969 giữ chức Giám Đốc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ). Sau đó, ông chuyển sang ngành ngoại giao và giữ chức cố vấn tại Tòa Đại Sứ VNCH tại Thái Lan. Kể từ 1975, ông lo việc giảng huấn và làm nghiên cứu trong lãnh vực kim khí học tại Université du Québec à Chicoutimi (UQAC).

Ông là tác giả cuả trên 100 bài báo trình bày kết quả cuả những công trình khảo cứu, đăng trong các nguyệt san khoa học chuyên ngành ở Mỹ, Canada và các nơi khác. Trong thời gian ở UQAC ông đã lập nên và điều khiển hai trung tâm khảo cứu về kỹ nghệ nhôm, tên tắt là CHIP và CURAL, và đã được nhiều giải thưởng về nghiên cứu từ các cơ quan khoa học và kỹ nghệ. Ông hiện nghỉ hưu với chức giảng sư danh dự cuả UQAC.

HLC: Xin kính chào GS Bùi Tiến Rũng. Canada và Hoa Kỳ tuy cùng vùng Bắc Mỹ nhưng nét đặc thù của Canada nhất là tỉnh bang Québec là chịu ảnh hưởng văn hoá của Pháp. Hôm nay xin hân hạnh cùng ông trò chuyện về con đường đại học nói chung, nhất là đường hướng tương lai cuả đại học trong những thập kỷ tới, đồng thời xin mời ông nói về những kinh nghiệm bản thân ông từ một đại học Canada. Trước hết xin ông cho biết qua về lịch sử của ngành đại học, xuất phát từ đâu?
BTR: Xin chào chị Hoàng Lan Chi. Về câu hỏi của chị, thì theo dòng lịch sử Tây phương, ban đầu, từ thời trung cổ đại học do Nhà Thờ lập nên và kiểm soát. Sau đó, lần hồi đến lượt Nhà Nước kiểm soát. Qua những giai đoạn đó, đại học không nhiều thì ít luôn luôn giữ thái độ “tháp ngà”, là một thái độ sau này trở nên đề tài dị nghị. Nhưng thật ra, đó cũng là điều tốt, hơn nữa còn là điều may mắn cho nhân loại, vì những bộ óc “tháp ngà” đó có “lên non tìm động hoa vàng” để suy tư suốt một cuộc đời nửa tu hành nửa nhân thế, mới để lại được biết bao nhiêu tư tưởng siêu việt, lời hay ý đẹp, và kiến thức thiết yếu cho kho tàng vô giá của loài người. Hiện tượng “lên non” này ta thấy có ở cả phương Tây lẫn phương Đông. Thế rồi với thời gian, thời đại nào kỷ cương nấy, ngày nay có thêm một yếu tố chi phối nữa, đó là Thị Trường, gọi nôm na là Nhà Buôn, tôi hay đùa dỡn gọi đó là ba nhà: Nhà Thờ, Nhà Nước, Nhà Buôn.

HLC: Được biết trong nhiều năm trước 1975, ông là giám đốc một trường kỹ sư ở Sàì Gòn, sau đó là giám đốc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật, xin ông cho biết những nhận định của ông về vấn đề giáo dục đại học, trong giai đoạn này, đặc biệt là trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật?

BTR: Chúng ta đang trải qua một giai đoạn rất đặc biệt. Nhận định thứ nhất là kiến thức của nhân loại tăng trưởng mau lẹ theo lũy tiến, và kinh tế cũng như kỹ thuật tiến nhanh theo. Nhận định thứ hai là đại học tìm cách thích ứng về mặt đào tạo và nghiên cứu, đồng thời điều chỉnh khuynh hướng của mình giữa hai ngả đường mà thoạt nghe ta thấy có phần đối nghịch nhau, đó là phục vụ công ích xã hội và phục vụ kinh tế thị trường. Muốn biết rồi ra đại học sẽ đi về đâu, ta cần phân tích sâu xa ảnh hưởng của mỗi nhận định đó.

HLC: quả thực là kiến thức nhân lọai hiện giờ tăng rất nhanh và từ đó thì kinh tế và kỹ thuật cũng tiến nhanh theo. Ông có thể trình bầy về sự phát triển này trước khi chúng ta đi vào chi tiết?

BTR: Ta đang trải qua một giai đoạn mà kiến thức cuả nhân loại tăng lên với một gia tốc có một không hai. Kiến thức trong mọi ngành tăng trưởng theo lũy tiến, đến với chúng ta ào ạt, vừa nhanh vừa nhiều vừa súc tích, và đồng thời số lượng dữ kiện, tài liệu, cũng tăng theo, đến độ người ta phải luôn luôn coi chừng kẻo bị ngập đầu vì dữ kiện. Có những vật liệu mới mà trước đây ta không bao giờ tưởng tượng sẽ có, những kỹ thuật mới, phương pháp mới, phương tiện mới, từ đó nảy sinh ra những lãnh vực mới, và nhất là cơ hội mới. Thử điểm qua vài thí dụ trong vô số, từ vật liệu nano, kỹ thuật chế tác nano, kỹ thuật nhu liệu, vi tính sinh học, kỹ thuật gen, tới cả những nhà máy khổng lồ mà mọi thành phần phức tạp tế nhị từ nhỏ đến lớn đều được điều khiển từ xa qua trung gian của mô hình và internet. Đó là chưa nói đến những khả năng ngày một thêm tinh tế cuả ngành tin học mà chúng ta ai cũng đã ít nhiều trải nghiệm qua, hay đóng góp vào, trong phạm vi nghề nghiệp hay ngay cả trong đời sống hàng ngày. Những khái niệm như không gian cyber, thế giới cyber, là thực tế chứ không phải là lộng ngữ. Người thầy ( thầy để chỉ chung các giảng viên nam cũng như nữ) ra trường trước đây vài thập niên, nay thấy số lớn những kiến thức mà mình dùng và dạy đã chỉ ra đời sau khi mình ra trường.

HLC: khi kiến thức tăng nhanh như vậy thì người sinh viên đại học sẽ phải làm thế nào để thích ứng?

BTR: Trong bối cảnh mới, lối học tập phải thích ứng. Hiển nhiên lối học từ chương nay đã lỗi thời, nhưng ngay cả lối học chỉ dựa vào việc đi theo bài giảng của thầy và theo sách không thôi, nay cũng phải cải tiến.

Người sinh viên phải tự học nhiều hơn, có vậy mới theo kịp, thâu thập được nhiều và thấu đáo. Lượng kiến thức đòi hỏi nơi người sinh viên tăng lên nhiều, nội dung mỗi môn học dài ra và thay đổi luôn để cập nhật, nhưng năm học vẫn chỉ dài chừng đó. Khả năng tự học còn trở nên quan trọng hơn nữa trong trường hợp học tập trên mạng, dùng bài giảng và thực tập qua internet, còn gọi là e-learning. Lối học tập này ngày càng thịnh hành, tuy có nhiều lợi ích như giảm phí tổn, uyển chuyển về giờ giấc, người học có thể tự lượng giá, nhưng vẫn thiếu sự tiếp xúc thầy trò, nên nó đòi hỏi nhiều hơn ở người học.

Người sinh viên phải biết phê bình, cân nhắc để lựa chọn, phân loại, thâu thập hay phản bác, áp dụng đúng cách đúng chỗ, thay vì chỉ học thuộc bài và nhắc lại. Điều này được phản ảnh trong việc các thầy cho sinh viên làm bài thi mở sách.

Người sinh viên phải biết suy luận. Suy luận giúp ta học một mà suy ra để biết hai, ba. Sự suy luận đòi hỏi người học phải có khả năng phân tích dữ kiện, nói văn vẻ là giải mật dữ kiện, để tránh bị ngập đầu, để nhìn qua rừng mà nhận dạng ra cây, để không bị lạc vào mê hồn trận.

Người sinh viên phải có sáng kiến, để việc học tập thêm hấp dẫn, đỡ khô khan, sự khô khan đã từng làm cho nhiều sinh viên bỏ dở những ngành học về khoa học và kỹ thuật. Sáng kiến dẫn đến canh tân, canh tân là nhựa sống của kinh tế.
Tự học, phê bình, suy luận, sáng kiến là bốn điểm tựa để giúp người sinh viên bắt kịp, và có bắt kịp rồi mới mong tiến lên phía trước. Điều thiết yếu là học nhanh hơn, và ứng dụng tốt hơn. Và nhớ rằng những phần việc có tính cách nhắc đi nhắc lại, “máy móc”, kể luôn cả việc lấy những quyết định phức tạp dựa trên những dữ kiện rối rắm, có thể có “máy” làm thay người. Nếu chưa có máy làm việc đó thì người ta làm ra máy để nó làm công việc, thay vì chính ta làm, vì ta làm không thể lẹ bằng máy, lại có thể lầm lẫn vì “errare humanum est”. “Máy” ở đây chỉ những phương tiện như điều khiển tự động, robots, trí khôn nhân tạo, hệ thần kinh nhân tạo, hay những mô hình toán học được tạo ra, tuy phức tạp nhưng là để mô tả những trang cụ hay tiến trình còn phức tạp hơn (1). Những mô hình này được giải bằng vi tính nhanh gấp trăm gấp ngàn lần thời gian thực. Dùng mô hình, mà ta còn gọi là trang bị ảo, ta có thể tiên đoán hậu quả của mỗi động tác ta muốn làm thử, mà tránh được những hậu quả xấu có thể xảy ra khi ta thử trực tiếp trên trang bị thực, hơn nữa, ít tổn phí hơn nhiều (2). Mô hình toán học không những chỉ dùng để khảo sát những trang bị hay tiến trình vật lý phức tạp, mà còn có thể dùng cho những tình huống ngoài phạm vi kỹ thuật, như những bài toán về kinh tế, xã hội, hay về tổ chức, hành chánh, hoặc sản xuất (3). Đây là một trong những đề tài được phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XX có ảnh hưởng lớn đến phương pháp đào tạo và học tập cũng như phương pháp làm việc, chỉ cần nhìn qua các tài liệu nghiên cứu và sách giáo khoa về đề tài này vào thời gian đó thì rõ (1).

Tóm lại, người sinh viên có đi tìm thách đố trong sự tự học và phê bình, có cảm thấy thích thú trong suy luận và sáng kiến, thì từ đó ta sẽ có nhân sự tốt, khả năng hành nghề tốt, khả năng nghiên cứu tốt, mà không cần làm “cách mạng giáo dục” hay nêu khẩu hiệu đao to búa lớn.

HLC: Bốn điểm chính để trò thích ứng, còn về phía thầy thì sao?

BTR: Lối học tập phải thích ứng thì lối đào tạo cũng phải thích ứng. Trước hết, thầy phải hướng dẫn để cho sinh viên chủ động. Học tập là một tiến trình chủ động. Không ai có thể học dùm cho người khác. Nhiều vị thầy ở trong nước đã từng lên mạng tâm sự rằng làm nên sự thụ động cuả sinh viên, lỗi chính là ở giảng viên (14).

Thứ hai là dùng tài liệu cập nhật thay vì chỉ dùng sách. Sách là cần thiết nhưng sách có giới hạn cuả nó. Sách phải bao trùm nhiều đề tài nên không thể đi sâu vào vấn đề như tài liệu nghiên cứu. Sách phải trình bày cho có lớp lang, mạch lạc. Tài liệu nghiên cứu, thường trình bày dưới dạng bài báo chỉ một hai chục trang trong các tập san chuyên khoa định kỳ, trên giấy hay trên mạng, có thể vượt qua khuôn khổ của sách. Nó nêu những kết quả, nhưng cũng nêu cả những thất bại, những giả thuyết bị bác, và nói vì sao bị bác; nó nêu cả những bất ngờ, nhưng vì bất ngờ mà quí báu, vì chúng có thể làm đổi hướng đi ở phần kế tiếp cuả tiến trình (4).

Thứ ba là thầy tích cực dùng kinh nghiệm nghề nghiệp để bổ túc cho kiến thức. Việc này giúp cho việc học hỏi của sinh viên thêm sống động và gần gụi với đời thực đang đợi họ bên ngưỡng cửa. Độc giả nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp ắt dễ thông cảm điều này, điển hình là những chuyên viên đã từng đi qua các công ty cố vấn, các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm trong kỹ nghệ hay kinh doanh, và rõ hơn nữa là trường hợp các y sĩ giàu kinh nghiệm điều trị.

Thứ tư là lắng nghe nhu cầu thị trường và kỹ nghệ. Lắng nghe thị trường giúp ta hiểu và đáp ứng những nhu cầu thực tại, và cũng từ đó có thể tiên đoán hay hướng dẫn những nhu cầu này dựa trên những tìm tòi mới. Chính vì sự lắng nghe này, mới có thêm những ngành học trước đây không lâu ta nghe còn lạ tai mà nay thành phổ quát như génie logiciel, génie biomédical, bioinformatique, génie génétique, và còn nữa, phát sinh từ nhu cầu kỹ nghệ.

Thứ năm là thầy phải tích cực tham gia các công trình nghiên cứu. Giảng dạy ở cấp đại học mà không làm nghiên cứu thì sớm muộn gì sẽ thụt lùi, thiếu sáng tạo và mất thời gian tính. Riêng trong ngành khoa học ứng dụng, tham gia các công trình nghiên cứu có cộng tác với kỹ nghệ còn cho ta lợi ích lớn là thêm kinh nghiệm thực tại, và dễ lắng nghe nhu cầu của thị trường. Chính vì ngành hoạt động nọ lắng nghe nhu cầu của ngành kia mà ngày nay sinh viên y khoa có thể thực tập giải phẫu trên máy tính, sinh viên nha khoa có thể thực tập chữa răng trên đầu robot, và ngành génie génétique mới tiến sâu vào lãnh vực cấu tạo và chế biến các gen thực vật, động vật.

Người thầy muốn tạo sự nghiệp phải có thành quả tốt trong cả ba thành phần của sứ mạng đại học, là đào tạo, nghiên cứu, và phục vụ cộng đồng và xã hội. Thành phần thứ hai, là nghiên cứu, thường đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Muốn làm nghiên cứu có phẩm chất, phải có cơ sở hạ tầng, có đề tài, có nhân sự, có sinh viên, và phải tìm được nguồn tài chánh từ các cơ quan lo việc phát triển khoa học hay kỹ nghệ. Do đó, một phần thời gian phải dành cho việc lập hồ sơ xin ngân khoản, đôi khi làm đi sửa lại nhiều lần. Phần nữa là đi trình bày các công tác cuả mình tại những hội nghị khoa học, và soạn thảo những bài báo rồi đề nghị đăng trên các báo chuyên môn định kỳ để phổ biến kết quả và kinh nghiệm. Còn biết bao việc liên quan khác nữa chờ đợi người giáo sư, như tiếp tay với các báo chuyên môn để lượng gíá những bài báo, hay giúp đỡ các cơ quan tài trợ lượng giá những hồ sơ xin ngân khoản. Như vậy chỉ còn ít thời gian để lo việc giảng huấn. Tình huống càng thêm tế nhị ở chỗ nếu vì thế mà thầy không hoạt động đúng mức về nghiên cứu thì lại sớm cạn nguồn kiến thức cập nhật để giảng dạy, và sẽ trở nên vắng bóng trong cộng đồng khoa học, đó là điều không tốt cho mình, cho sinh viên và cho đại học. Ta thấy thêm một lý do vì sao khả năng tự học và chủ động của sinh viên là cần thiết. Ta cũng thấy lý do vì sao ở nhiều đại học, sau mỗi học kỳ, thầy chấm điểm sinh viên là việc tất nhiên, mà ngược lại sinh viên cũng chấm điểm thầy, bằng cách lượng giá việc giảng huấn.

HLC: Xem ra làm thầy đại học thời buổi này quả là quá ư vất vả, so với thời xưa của chúng tôi! thời đó có lẽ do nhiều lý do, hòan cảnh chiến tranh, kinh tế v.v. khiến trò học thuộc sách vở từ thầy giống y hệt trung học! Xin ông cho biết ông suy nghĩ gì về sứ mạng xã hội cuả đại học, cùng những vấn đề liên quan, như nghiên cứu khoa học ? Và sự khác biệt giữa đại học công và tư?

BTR: Trong hiện trạng, có hai khuynh hướng mà thoạt nghe qua ta thấy có phần đối nghịch nhau, một là đại học phục vụ công ích xã hội, hai là đại học phục vụ kinh tế thị trường. Công ích xã hội phải được hiểu theo đúng nghĩa là những phúc lợi nhân bản chung cho con người, gia đình và cộng đồng, chứ không thể bị cưỡng đoạt ý nghĩa và gán ghép những màu sắc chính trị hay tệ hại hơn nữa, những mưu đồ chính trị.

Muốn đóng góp vào việc mở mang kiến thức đồng thời phục vụ kinh tế, đại học cần thực hiện cả hai loại nghiên cứu là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Một loại giúp gia tăng kiến thức, đẩy xa những giới hạn hiểu biết của con người, một loại đóng góp vào tiến bộ kinh tế và đời sống vật chất. Hai loại nghiên cứu còn xen kẽ, bổ túc và nuôi dưỡng lẫn nhau, nên ta thường khó vạch rõ được ở điểm nào thì phần cơ bản chấm dứt và phần ứng dụng bắt đầu.

Từ thực tế đó nảy sinh ra sự canh tranh giữa các đại học. Đây là một vấn đề tế nhị, vì dù là công hay tư, đại học không mưu tìm lợi nhuận theo nghĩa thông thường của lợi nhuận nơi thị trường. Thặng dư ngân sách, nếu có, cũng chỉ dùng để đại học tự mở mang thêm mà thôi, gọi là “mỡ nó chấm nó”. Mở mang thêm cũng chỉ để có thêm phương tiện lo cho sứ mạng của mình. Nhưng đại học vẫn cạnh tranh với nhau, để có những nguồn tài trợ, để giành những cơ hội cộng tác với tư doanh, để có thêm yểm trợ của công quyền, để thâu nạp thêm sinh viên, để thu hút giáo sư giỏi, để có thêm dự án phát triển cơ sở. Phải có tiền mới có thể cạnh tranh nhằm vươn lên trong thế giới đại học, và không vươn lên thì sẽ mai một đi. Nhưng ngược lại, không thể bị lôi cuốn bởi những mục tiêu thương mại.

HLC: Coi bộ trò đu dây này không dễ chút nào phải không, thưa ông? Vừa muốn mở mang thêm nhưng làm sao để không cuốn hút vào làn sóng thương mại, vấn đề coi bộ không đơn giản tí nào!

BTR: Đúng thế, trò đu dây này không dễ. Một mặt, đại học phải cạnh tranh để có thêm phương tiện, mặt khác, đại học phải có tự trị và tự do tư tưởng. Tự trị để tự đảm trách hướng đi và chương trình hành động của mình, và tự do tư tưởng để có thể phát triển tri thức. Nhận tài trợ của giới tư doanh mà không có thỏa hiệp phân minh, dễ có ảnh hưởng đến quyền tự do tự trị đại học. Chính vì vậy mà các chính quyền thường bảo đảm một ngân sách căn bản cho đại học ngõ hầu bảo vệ và củng cố quyền tự do này.

HLC: Tôi nghe nói có một giải pháp, chúng ta tạm gọi là « góp gạo thổi cơm chung », xin ông nói rõ hơn?

BTR: Chúng tôi xin phép đưa ra một số nhận xét và các nhận xét này dựa nhiều vào trường hợp Canada, nhưng tựu trung có rất nhiều điểm tương đồng với Mỹ, và trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay thì ta không lạ là cũng có nhiều điểm tương đồng với các nơi bên ngoài Bắc Mỹ.

Hệ thống đại học Canada ngày càng thiên về một giải pháp tuy đã có từ vài thập niên, nhưng được liên tục cải tiến cho thêm hiệu quả. Giải pháp này có thể gọi nôm na là “góp gạo nấu cơm chung”, theo đó cả hai phía, một bên thuộc về công ích xã hội và một bên thuộc kinh tế thị trường, cùng đóng góp vào đại học và cùng hưởng những dịch vụ và thành quả của đại học. Đối với đại học công, ngân sách căn bản của phần đào tạo và quản trị đại học do công quyền đài thọ, những dự án phát triển khác có thể được tài trợ bởi công quyền, tư doanh, hay cả hai. Ở Canada, công quyền nói tới ở đây là chính phủ tỉnh bang, vì giáo dục là lãnh vực thuộc thẩm quyền tỉnh bang. Đối với đại học tư như trường hợp Mỹ, phần tài chánh tư nắm ưu thế. Ở Canada, giáo dục đại học được coi là một quyền căn bản mà người dân ai muốn cũng được hưởng theo nguyên tắc cơ hội đồng đều. Vì thế, tuy Canada có tư thục ở các cấp dưới (vấn đề ngoài phạm vi buổi trò chuyện hôm nay), nhưng không có đại học tư theo nghĩa của hệ thống đại học tư ở Mỹ. Và ngay ở Mỹ, đại học tư cũng nhận tài trợ của công quyền, có khác nhau chăng chỉ là nhiều hay ít. Những trường hợp gọi là tư ở Canada chỉ là vài bộ phận của đại học công được tách ra, tổ chức và điều hành theo phương thức kinh doanh, như những lớp huấn luyện đặc biệt, những chương trình học chuyên đề, hay những công ty nhỏ loại “spin-off” do đại học lập ra để khai thác những sáng chế có bản quyền. Tình trạng này dễ gây ngộ nhận trong đại chúng rằng ở Canada có đại học tư, thật ra, tất cả các đại học ở xứ này đều nhận ngân sách do công quyền đài thọ. Vài đại học cung cấp dịch vụ đặc biệt và thâu học phí cao hơn các đại học khác, vì thế gây ấn tượng đó là đại học tư. Tuy nhiên, đối với giới hữu trách trong công quyền hay trong giới đại học thì không thể có sự ngộ nhận này.

Mặt khác, những hoạt động về nghiên cứu, do các giáo sư đề xướng và thực hiện, cũng thường được tài trợ chung từ nhiều phía. Nghiên cứu cơ bản thường do chính ngân sách của đại học nâng đỡ, ít ra là trong giai đoạn đầu để đặt nền móng, và cũng có thể hưởng trợ cấp của những cơ quan công quyền, hoặc cơ quan tư nhân bất vụ lợi thường mệnh danh là Cơ Sở (Foundations), lo yểm trợ cho việc phát triển đại học. Những Foundations lớn thường hưởng nhiều tặng dữ của các nhà mạnh thường quân, nên có thể đồng thời cấp những khoản tài trợ lớn cho nhiều đại học. Ngoài ra, bên cạnh mỗi đại học thường có một hay nhiều Foundations, có các mạnh thường quân tiếp tay cùng với các cựu sinh viên biết ơn trường cũ, để yểm trợ cho toàn thể hay một bộ phận cuả đại học đó. Một thí dụ là McGill University Health Center Foundation (5), đứng sau lưng các hoạt động y khoa của đại học McGill ở Montréal. Sự yểm trợ thường dưới hình thức ngân khoản để mua trang cụ, tuyển giáo sư, cấp học bổng, lập chương trình mới, hoặc tạo thêm cơ sở hạ tầng. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển và có nhu cầu lớn về xây dựng đại học, công thức lập Foundations là một lối đi có nhiều hứa hẹn.

Phần nghiên cứu ứng dụng thường có thêm tài trợ của giới tư doanh. Như vậy một dự án nghiên cứu có thể có tới ba hay bốn nguồn tài trợ, bổ túc lẫn nhau, đó là đại học, công quyền và tư doanh. Bước sang thế kỷ 21 này, giới tư doanh ngày càng hăng say tìm cách cộng tác với những hoạt động nghiên cứu của đại học. Hiệp hội nghiên cứu kỹ nghệ của tỉnh bang Québec, tên tắt là ADRIQ, hằng nhắc nhở các thành viên của họ nên giao phó công tác nghiên cứu ứng dụng cho các nhóm nghiên cứu đại học, đồng thời giảm thiểu các hoạt động nội bộ về nghiên cứu để tập trung tài nguyên vào việc áp dụng kết quả và đưa ra thị trường (6). Công quyền mà ta nói tới ở đây thường gồm hai cấp, trung ương và địa phương. Trường hợp Canada, hai cấp đó là liên bang và tỉnh bang. Ở Canada, giáo dục là trách nhiệm của tỉnh bang, nhưng phát triển khoa học, kinh tế, kỹ nghệ là trách nhiệm của cả hai cấp công quyền. Trong công thức góp gạo nấu cơm chung, Nhà Nước có lợi trong phần vụ đào tạo và mở mang tri thức cho xã hội, tư doanh có lợi trong phần vụ nghiên cứu ứng dụng vào các vấn đề của tư doanh.

HLC: Nghe ông nói thật thú vị. Tôi thường được biết Canada có y tế cho tòan dân. Nay được biết thêm đa số đại học Canada là công. Và sự phân chia hay chia gạo rất hợp lý. Giáo dục cơ bản do ngân sách đài thọ, còn ứng dụng có tài trợ tư doanh, Tỉnh bang lo giáo dục, ứng dụng phát triển lại có sự đóng góp của liên bang. Thế các thành phần cụ thể thì như thế nào thưa ông trong việc “ góp gạo nấu cơm chung”?

BTR: Vâng, ta hãy xem qua các thành phần thuộc công quyền Canada để thấy nhiệm vụ yểm trợ phát triển khoa học và kỹ thuật được xứ này coi trọng ra sao. Ở cấp liên bang có Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học Tự Nhiên Và Kỹ Thuật (7), Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học Nhân Văn (8), Hội Đồng Nghiên Cứu Y Khoa (9), ba hội đồng này có nhiệm vụ yểm trợ các hoạt động nghiên cứu trong ba lãnh vực khoa học. Riêng giới tư doanh còn có sự yểm trợ của Hội Đồng Nghiên Cứu Quốc Gia (10) dành cho những dự án nặng tính kỹ nghệ. Các tỉnh bang tùy theo lớn nhỏ cũng có những Hội Đồng Nghiên Cứu, mà lãnh vực hoạt động tương ứng với các cơ quan liên bang nói trên (11). Một công thức hợp lý và thường thấy là một dự án do đại học thực hiện cộng tác với kỹ nghệ được tài trợ bởi cả hai cơ quan liên bang và tỉnh bang, cộng thêm kỹ nghệ, theo tỉ lệ mỗi nơi một phần ba. Hoa kỳ có nhiều cơ quan giữ nhiệm vụ giống như các Hội Đồng kể trên, ở cấp liên bang và ở cấp tiểu bang. Riêng ở cấp liên bang, nổi tiếng nhất là Cơ Sở Khoa Học Quốc Gia (12).

Với một lãnh thổ quốc gia rộng thứ nhì trên thế giới, ở Canada giới tư doanh muốn đi tìm đối tác đại học để đáp ứng đúng nhu cầu nghiên cứu của mình không phải là việc dễ. Vì vậy từ hơn hai thập niên qua các chính quyền liên bang cũng như tỉnh bang lập ra những mạng lưới nghiên cứu chuyên về một lãnh vực khoa học được phân định rõ ràng, gọi là Networks of Centres of Excellence hay NCE. Những mạng lưới này giúp cho các đại học dễ hợp tác với nhau trong lãnh vực được chỉ định và tạo nên một khối lượng kiến thức, nhân sự, và phương tiện đủ lớn để có thể thực hiện những dự án nghiên cứu có tầm vóc. Thêm nữa, còn có những văn phòng “se duyên", chuyên lo giúp đôi bên, là tư doanh và đại học, đi tìm đối tác.

Để đề cao sự cộng tác giữa đại học và tư doanh, nhiều cơ quan có uy tín thường cấp giải thưởng cho những nhóm cộng tác giữa đại học và kỹ nghệ đạt thành quả đặc sắc trong nhiều năm liền. Được chú ý hơn cả là giải University-Industry Synergy của Conference Board of Canada (13).

HLC: những giải thưởng như vậy thât hợp lý vì đề cao cả đại học và tư doanh. Nhưng có những tư doanh muốn thủ đắc riêng những kết quả cuả công trình khảo cứu thì sự thỏa thuận sẽ như thế nào?

BTR: Trong trường hợp này, kỹ nghệ thường đài thọ toàn bộ ngân sách của dự án thay vì chỉ góp một phần, và một thỏa ước được ký kết giữa kỹ nghệ và đại học để qui định mọi điều khoản. Ngày nay đại học nào cũng có văn phòng liên lạc với tư doanh để lo những việc này, và ngược lại nhiều công ty lớn cũng có văn phòng đặc trách việc thăm dò và liên lạc với giới đại học. Cũng vì những kết quả nghiên cứu có thể có tiềm năng thương mại, một số đại học lập ra những công ty nhỏ để tự mình khai thác tiềm năng đó, gọi là spin-off companies, đã nói qua khi nãy.

HLC: Gần đây nghe một vài khái niệm khá lạ như “thị trường kiến thức” hay “đại học thương mại hóa”, ông có thể giải thích thêm?

BTR: Đúng vậy, nhiều cuộc thảo luận gần đây xoay quanh những khái niệm thoạt nghe lạ tai như “thị trường kiến thức” hoặc “đại học thương mại hóa”. Đã gọi là thị trường hay thương mại thì phải làm quảng cáo, phải tìm cách làm cho mình “ăn khách”, mà đồng thời không đi quá xa đến mức trở thành “con buôn”. Dù có dư vị châm biếm hay là tả chân, đó vẫn là sự thực. Từ hơn chục năm nay, đại học ở Bắc Mỹ, Âu, Úc tăng cường quảng cáo rầm rộ để thu hút số rất lớn sinh viên du học xuất phát từ một số nước và đang gia tăng nhanh. Đứng đầu là Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước phát triển mau lẹ, có nhiều nhu cầu chuyên viên, và ngày càng có nhiều giới trung, thượng lưu gởi con em đi du học. Du sinh nước ngoài đóng học phí nhiều lần cao hơn sinh viên trong nước, đem lại thêm một nguồn tài chánh đáng kể cho đại học.

Bàn về kiến thức cũng nên nói qua về vấn đề văn bằng. Tuy trào lưu toàn cầu hóa đã đưa đến những nỗ lực nhằm sự phối hợp và thống nhất trong nhiều lãnh vực hoạt động, sự thiếu thống nhất trong danh hiệu của văn bằng vẫn còn tồn tại, tuy có giảm bớt. Nó xảy ra ngay tại các nước tiên tiến, nhưng tại các nước đang mở mang hệ thống đại học thì càng thấy rõ hơn. Riêng đại học của hai nước ở Bắc Mỹ, có một tiến trình phát triển tương tự, đã đạt được mức thống nhất thỏa đáng. Nhờ đó, người ta dễ định tương đương văn bằng, đây là một lợi điểm đối với tính lưu động cao độ của nhân lực giữa hai nơi. Được như vậy, phần lớn là do sự qui định ba cấp của đại học, rất phổ quát. Cấp 1 (undergraduate, premier cycle) kết thúc với bằng cử nhân (bachelor, baccalauréat), cấp 2 (graduate, deuxième cycle) kết thúc với bằng cao học (master, maìtrise), và cấp 3 (doctoral, troisième cycle) kết thúc với bằng tiến sĩ (doctorate, doctorat), sau đó là cấp hậu tiến sĩ (postdoctoral) dành cho người làm nghiên cứu. Có một ngoại lệ, là các ngành học liên quan đến sức khỏe con người và đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp vào thân thể (như y khoa, nha khoa, nhãn khoa, đôi khi dược khoa) có chương trình đào tạo dài hơn, và ngay từ cấp 1 đã dùng danh hiệu bác sĩ (doctor), theo nghĩa của một văn bằng chuyên nghiệp (professional doctorate).

HLC: Thưa ông, tuy chia ra như vậy nhưng trên thực tế dường như có vài “lấn cấn” khi so sánh văn bằng của giới Châu Âu và Châu Mỹ? Chẳng hạn tôi nhớ thời Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, theo Pháp nên tên gọi văn bằng có vẻ hơi chõi với sau này khi mà Hoa Kỳ lấn chiếm vào ngành đại học? Ví dụ Thạc sỹ Y khoa của trường Y khoa thời đó là cao nhất, cao hơn Tiến Sĩ, trong khi với Mỹ thì không phải. Không biết tôi nhớ như thế có đúng không thưa ông?

BTR: Trên bình diện thế giới, sự thiếu thống nhất thể hiện rõ hơn trong trường hợp văn bằng thạc sĩ, khi thì tương đương với maitrise khi thì với agrégation. Văn bằng agrégation thường thấy trong hệ thống đại học châu Âu, và có giá trị khác nhau tùy theo ngành học, khi thì thấp hơn cấp tiến sĩ khi thì cao hơn.

Thêm vào đó, đối với giáo sư đại học có thể có một vũ môn nữa mà cá phải vượt qua, gọi là habilitation à la recherche. Cũng may khuynh hướng ngày nay tại châu Âu là cải đổi để mọi nước tiến dần đến những hệ thống đại học tương tự với nhau, theo tinh thần của thỏa ước ký năm 1998 gọi là Tiến Trình Bologne, lấy năm 2010 làm thời hạn. Đồng thời châu Âu cũng có những nỗ lực thay đổi nhằm giảm thiểu những khác biệt lớn đối với Bắc Mỹ. Cho đến gần đây, Pháp có tới ba loại bằng tiến sĩ là tiến sĩ đệ tam cấp (doctorat de troisième cycle), tiến sĩ đại học (doctorat d‘université) và tiến sĩ quốc gia (doctorat d’état), nay tiến dần đến chỗ chỉ còn một. Ngoài ra, ở vài nước khác, còn thấy có văn bằng gọi là phó tiến sĩ. Chỉ coi chừng đó đủ thấy, tuy đã có tiến bộ, vẫn còn việc phải làm. Vấn đề này mới đây còn được dư luận chú ý hơn khi Pháp và Québec ký thỏa ước vào đầu năm 2010 nhằm gia tăng cơ hội lưu động của nhân lực thuộc nhiều lãnh vực chuyên nghiệp cấp đại học.

Khuynh hướng đi tìm sự thống nhất không những chỉ nhằm vào hệ thống văn bằng, mà còn nhằm vào cơ cấu và chức danh của các ngạch nhân viên giảng huấn, như giảng viên, giảng sư, giáo sư. Ở Pháp, đạo luật Savary năm 1984 đã đánh dấu một giai đoạn mới, đem hai châu Âu và Mỹ xích lại gần nhau hơn trong lãnh vực này.

HLC: Vâng cảm ơn ông. Ý kiến cá nhân tôi là nên thống nhất toàn cầu về hệ thống văn bằng vì ngày nay việc chuyển đổi nơi làm việc từ quốc gia này sang quốc gia khác là chuyện khá bình thường..Truớc khi tạm biệt xin ông cho một lời kết về vấn đề này?

BTR: Vâng, như đã trò chuyện nãy giờ về sứ mạng của đại học, ngày nào mà đời sống con người cũng như xã hội còn gồm có hai phần, là phần tâm trí và phần vật thể, ắt có nhu cầu nuôi dưỡng phần này bằng cách triển khai tri thức, phần kia bằng những hoạt động kinh tế, và ngày đó ta còn thấy tình trạng lưỡng phân của sứ mạng đại học.

Khi ta đã chấp nhận rằng sứ mạng của đại học là phục vụ con người và xã hội về cả hai mặt của đời sống, thì tình trạng lưỡng phân này không còn là một trở ngại, mà là một lợi điểm. Phương thức góp gạo nấu cơm chung nếu được phối hợp hữu hiệu, sẽ tạo nên sự bổ túc hỗ tương giữa hai nguồn tài chánh công và tư. Hơn nữa, trong một xã hội dân chủ, hai khuynh hướng là phục vụ công ích xã hội và phục vụ kinh tế thị trường có phần lồng vào nhau. Thật vậy, kinh tế thị trường có phát triển thì người dân có công việc tốt, mức sống cao, cuộc đời ổn định, đó là công ích xã hội. Người dân được đào tạo tốt thì tư doanh có nhân sự tốt, có khả năng canh tân, cạnh tranh cao, đó là kinh tế thị trường.

Muốn được hữu hiệu, mọi sự hợp tác đều cần tôn trọng những qui tắc phân minh. Nhiệm vụ của công quyền là hoạch định những qui tắc đó, sao cho uyển chuyển, hợp với mỗi hoàn cảnh, lại khuyến khích sự cộng tác. Được vậy mọi hoạt động của đại học sẽ dễ dàng thích ứng, từ việc giảng huấn, nghiên cứu, đến phục vụ cộng đồng.

Đó cũng là hướng đi có triển vọng trong những thập niên tới. Đại học cần nhìn xa trông rộng, đẩy mạnh sự mở cửa, dấn thân và hợp tác, góp gạo nấu cơm chung. Thầy lắng nghe thị trường, giảng dạy sát với thực tế, hướng dẫn sinh viên chủ động trong việc học tập, đặt nặng nghiên cứu cơ bản cũng như ứng dụng để không tụt hậu, có cơ hội vươn lên, có tiềm năng đóng góp. Về phần sinh viên, đặt nặng sự tự học, phê bình, phân tích, suy luận, sáng kiến, và nhắm vào giải quyết các vấn đề, thay vì chỉ đóng khung trong bài bản.

HLC: Xin cảm ơn Ông và kính chúc ông sức khỏe. Hy vọng chúng tôi sẽ hân hạnh được tiếp chuyện với ông trong tương lai về môt đề tài khác. Đó là Nghề Kỹ sư đứng trước thách đố có một không hai trong lịch sử"

BTR: Vâng, xin hẹn chị Lan Chi dịp tới.


Tham khảo:

(1)- Vài tài liệu để độc giả có thể tham khảo thêm: Fundamentals of Artificial Neural Networks, M.H.Hassoun, MIT Press, Cambridge, MA, 1992; Application of Artificial Intelligence in Process Control, L.Boullart et al eds, Pergamon Press, 1995. 2)- Bui, R.T.: « Modeling for the optimization of processes in the aluminum industry », Aluminum Transactions, Vol 2, No 1, 2000, pp.143-151. (3)- Một thí dụ: Baxter, R.et al: « Simulation-based validation of lean plant configurations », Bechtel Technology Journal, Vol 2, No 1, 2009, pp.67-79. (4)- Hoskins, S.G. and Stevens, L.M.: « Learning our L.I.M.I.T.S », Advances in Physiology Education, Vol 33, 2009, pp.17-20. (5)- McGill University Health Center Foundation (www.muhcfoundation.com)
(6)- Association de la recherche industrielle du Québec, 4 mai 2010, no 3.1 (www.adriq.com) (7)- Natural Sciences and Engineering Research Council (www.nserc.ca) (8)- Social Sciences and Humanities Research Council (www.sshrc.ca) (9)- Canadian Institutes of Health Research (www.cihr.ca) (10)- National Research Council (www.nrc.ca) (11)- Thí dụ Fonds québécois de recherches sur la nature et les technologies (fqrnt.gouv.qc.ca)
(12)- National Science Foundation (www.nsf.gov) (13)- The Conference Board of Canada (www.conferenceboard.ca)

Copyright © 2008 - All rights reserved.