bao the gioi


GỠ RỐI: 03-01-2011
Anh Tư


CHÓ NGỦ NHIỀU

Anh Tư thân mến:

Con chó cưng của em ngủ suốt trừ lúc được đi chơi ngoài đường. Nó chỉ thức dậy khi nghe tiếng em hâm thức ăn hay mở cửa (vì mong được ăn hoặc mong được đi chơi). Như vậy có bình thường không? Có bệnh tật gì không? Hay là em đem nó tới bác sĩ thú y nhờ khám? (Người Yêu Chó, Dallas)

Người Yêu Chó thân mến:

Có thể em khó tin khi Anh Tư cho biết, chó đã trưởng thành (trên 2 tuổi) có thể ngủ 12 giờ một ngày, tuỳ theo giống.

Chó to (trên 20 kí) ngủ nhiều hơn chó trung bình (12 kí) hay chó nhỏ (dưới 4 kí).

Chó con đang lớn càng cần ngủ vặt nhiều hơn, và có thể ngủ suốt 16 giờ một ngày.

Chó làm việc (kéo xe tuyết, dắt người mù, chó ảnh sát, chó canh) càng ngủ nhiều hơn chó thường, ngủ ngay khi ngưng việc.

Loại chó càng hiếu động khi thức (poodle) càng ngủ nhiều khi nhàm chán vì không có việc gì để làm.

Trong khi ngủ chó có thể máy mắt, cựa tay chân, mớ, tru hay sủa nho nhỏ. Phần lớn các thú y sĩ đồng ý là chó nằm chiêm bao y như người, khi ngủ.

Nếu chó của em ngủ hơn 12 giờ một ngày, nên nhờ thú y sĩ khám. Nhiều phần nó sẽ được thử máu để tìm bệnh về thyroid. Bệnh này rất dễ chữa, chỉ cần uống kích thích tố thyroid.

Chó già (chó to, trên 10 tuổi; chó nhỏ, trên 12 tuổi) hay chó bị bệnh tim, cũng ngủ nhiều (trên 14 giờ mỗi ngày), dễ mệt vì tim yếu, bơm không đủ máu cho toàn thân.


TIỀN GIẤY, NHÀ TÁNG

Anh Tư thân mến:

Giấy tiền vàng mã và nhà táng giấy có từ đời nào? Là tục của ta hay của tàu? (An Trương, Houston)
An Trương thân mến: Theo Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, vàng mã có từ Túc tông đời Đường, do quan Thái-ất sứ là Vương Dư làm ra. Mũ áo và nhà táng có từ đời Ngũ đại (907-959). Tất cả đều là cổ-tục du-nhập từ Trung-hoa. 108 TIẾNG CHUÔNG Anh Tư thân mến: Tại sao các chùa đánh đúng 108 tiếng chuông sớm và chiều, không nhiều hơn hay ít hơn? (Vĩnh An, Atlanta)

Vĩnh An thân mến:

Theo sách Kiên hồ lập của Chử Nhân Hoạch đời Thanh (Trung-hoa), các chùa đánh 108 tiếng chuông triêu mộ, vì 108 là độ số của một năm: 12 tháng + 24 khí + 72 hậu = 108. TRƯỚC KHI CÓ XÀ-BÔNG

Anh Tư thân mến:

Ngày xưa chưa có Tây đem xà bông qua, người Việt lấy gì giặt quần áo? (Thuý Phan, Arlington)

Thuý Phan thân mến:

Việt-nam đã biết làm "xà-bông" để giặt áo quần trước khi "được mẫu quốc khai hóa". Cách làm: đốt cành đậu sơn tiêu, lấy tro nhào thành nước dùng giặt quần áo, sạch, đẹp, không bay màu nhuộm.

LỄ CƯỚI HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT

Anh Tư thân mến:
Con trai tôi yêu một cô gái tị nạn Việt Nam, gốc đồng bào thiểu số. Các cháu định lấy nhau, nhưng bên nhà gái đòi đủ sáu lễ và bắt đầu trong ba năm mới cho làm đám cưới. Các lễ ấy do con trai tôi kể lại là dạm hỏi, minh hom, khả cáy, sêu tết, đám hỏi và đám cưới. Tôi không biết đó là tục của người Trung hoa hay của dân tộc nào, vì lúc nhỏ tôi cưới vợ chỉ có ba lễ là đám nói, đám hỏi và đám cưới. Tôi hỏi cho biết thôi, chứ con cái nó thương nhau thì đừng nói sáu lễ, mười lễ cũng làm. Xin bác cho biết theo cổ tục thì mỗi lễ như vậy gồm những gì để tôi chuẩn bị đáp-ứng. Ngoài ra cũng xin nói về tục cưới hỏi của người Việt ngày xưa để tôi so sánh. (Trần Văn Chơn, NY)

Ông Trần Văn Chơn thân mến: Nếu Anh Tư không lầm, bên nhà gái là người Tày hoặc Nùng, căn cứ vào các âm “minh hom”, “khả cáy”.

Tục cưới hỏi Tày, Nùng đúng là gồm sáu lễ:
- Dạm hỏi: nhà trai nhờ mai mối mang hai hộp trà, hai phong bánh khảo và 1 đồng bạc (tượng-trưng) đến dạm hỏi. Nếu đồng ý, nhà gái sẽ ghi lá số (năm tháng ngày giờ sinh) của con gái giao cho mai mối đem về.
- “Minh hom”: Nhà trai mang đến nhà gái một quả xôi, một cặp gà và một chai rượu, mừng lá số trai gái hợp nhau.
- “Khả cáy”: Nhà trai mang đến nhà gái một buồng cau, hai quả bánh dày, 2 cặp gà, 720 tiền tơ hồng và 2 kí thịt. Nhà gái sẽ bói chân gà để đoán xem trai gái có lấy nhau được không.
- Seo (sêu) Tết: kéo dài trong ba năm, mỗi năm ba lần, gồm:
Tháng 7 (Trung-nguyên): nhà trai mang biếu nhà gái 40 vuông bánh dợm, 1 đôi vịt hoặc 20 tiền.
Tháng 10 (lễ Cơm Mới): từ 200 đến 240 bánh dày, 1 con lợn quay, 1 đôi gà, 2 chai rượu,
Tháng Giêng: 40 bánh chưng và một đôi gà trống thiến.
- Đám hỏi: để báo ngày cưới và để hai họ mặc cả tiền cưới, sính-lễ. Lễ vật gồm 1 quả xôi, 1 kí thịt, 1 chai rượu.

- Đám cưới: 2 tạ thịt lợn, 1 đôi gà, 2 chai rượu, 1 quả trầu, 1 quả xôi, 1 con lợn quay, 100 đồng tiền cưới, 7 đồng 20 tiền đi đường, 20 xu tiền luộc gà, 20 xu tiền chặt thịt quay, 40 xu tiền gói hồi-môn, 1 đồng 20 cho trẻ chăn trâu, 1 đồng 20 cho lá số cô dâu,..

Nhà trai đưa chú rể đến làm lễ trước bàn thờ tổ-tiên nhà gái. Chú rể được nhà gái tặng một món tiền mừng. Nhà trai đón dâu về làm lễ gia-tiên bên chồng. Cô dâu mang theo của hồi-môn, quần áo, chăn màn, vải vóc, bát đĩa, ấm chén, chậu, mâm thau và chiếc màn hoa treo trước bàn thờ. Cô dâu cũng được nhà chồng tặng một món tiền.

Thời gian từ đám dạm hỏi đến đám cưới bao giờ cũng gần bốn năm hay hơn.
Tục Trung hoa, theo Chu Công lục lễ, việc cưới xin gồm:
- Nạp thái: nhà trai nhờ mai mối mang con nhạn đến nhà gái tỏ ý muốn kết hôn.
- Vấn danh: nhà trai nhờ mai mối hỏi lá số (tên tuổi, ngày giờ năm tháng sinh) của cô gái.
- Nạp cát: báo cho nhà gái biết lá số của đôi trai gái hợp nhau.
- Nạp trưng (hay nạp tệ): đem sính-lễ tới nhà gái để làm lễ từ đường.
- Thỉnh kỳ: xin ngày rước dâu.
- Thân nghênh hay nghênh hôn: lễ rước dâu, tức lễ cưới. Theo tục lệ Việt Nam:
- Bắn tin: nhà trai nhờ mai mối đến nhà gái ngỏ ý cầu hôn.
- Lễ chạm ngõ: sau khi nhà gái bằng lòng, nhà trai mang trầu, cau, trà, rượu đến làm lễ chạm ngõ, chính thức cầu hôn.
- Lễ ăn giạm (vấn danh): xin lá số cô gái.
- Lễ ăn hỏi (nạp tệ): lễ lớn, gồm bánh trái, rượu trà, cau.
Sau lễ hỏi, nhà trai phải sêu tết nhà gái trong các ngày tết (Nguyên đán, Đoan ngọ, Trung thu, Cơm Mới và các ngày giỗ chính bên nhà gái).
- Lễ cưới (nghênh hôn): tiền cưới, nữ trang, quần áo, lợn, gà, xôi, cỗ bàn, v.v.

Chú rể cùng cô dâu làm lễ trước bàn thờ gia tiên bên nhà gái và các bậc trưởng thương trực tiếp bên cô dâu (bố mẹ, ông bà, cụ kỵ,..), mỗi người hai lạy một xá. Nhà gái tặng tiền mừng cho chú rể.

Nhà trai rước dâu về làm lễ gia-tiên bên nhà gái (lễ người chết: bốn lạy một xá) và lạy chào các bậc trưởng thượng trực tiếp, mỗi người hai lạy một xá.
TIỀN TÍP, TIỀN BOA

Anh Tư thân mến: Khi ra ngoài đi ăn nhà hàng, ở khách-sạn, đi xe tắc-xi,.. ai cũng phải cho tiền thưởng. Trong nước gọi là tiền “boa”, còn ở Mỹ gọi là tiền “típ”. Tôi nghĩ nên gọi chung là tiền “boa” cho gọn, khỏi xài tiếng ngoại lai.
Cách cho “boa” mỗi nơi mỗi khác, mỗi khi ra ngoài tôi lại lúng túng, không biết cho bao nhiêu thì “coi được” mà không đến nỗi xót ruột lắm! Xin bác cho ra một vài đề nghị chung chung theo kinh-nghiệm sống của bác. (Andy Quách, Austin)
Andy thân mến: “Boa” cũng là tiếng ngoại-lai, do chữ pour boire (tiền để uống, tức tiền trà nước) của Pháp, chẳng khác gì “típ” do chữ tip hay “tip off” của Anh.

Đề-nghị dùng chữ “tiền thưởng” để nói gọn nhóm chữ “tiền thưởng công phục-vụ”.
Tuỳ theo xã hội và trường hợp, tiền thưởng lên xuống từ 50 xu (Canada, Mỹ) cho tới 25% tổng số tiền trả ra. Xin tóm gọn như sau:

- Thưởng cho nhân viên đổ xăng xe hơi: 50 xu vào mùa hè hoặc 1 gia-kim trong những ngày lạnh lẽo, hoặc khi người ấy lau kính xe cho ông (dù tiền xăng ở trụ full serve đã tính thêm tiền phục vụ nên thường cao giá hơn xăng ở trụ self serve).
- Thưởng cho nhân viên mang hành-lý (porter) ở phi trường, nhà ga 1 gia-kim mỗi túi hành-lý, tối thiểu 2 gia-kim tổng cộng; nếu bắt họ chờ ở quầy lấy phiếu lên tàu (boarding pass) thưởng thêm cho họ, tùy phải đợi lâu hay mau, tối thiểu 5 gia-kim tất cả.
- Thức ăn giao tại nhà (pizza, gà chiên,..) thưởng 1 gia-kim hoặc 2 gia-kim. Nếu ông ở trên cao ốc nhiều tầng, hoặc gặp lúc trời dông bão, băng tuyết lạnh lẽo, có thể thưởng hơn.
- Ở nhà hàng loại làm nhanh (fast foood) ăn tại chỗ hoặc mang đi: thưởng 50 xu cho nhân-viên tính tiền. Ăn ở các khu ăn uống trong thương-xá (food court), nếu tự dọn bàn lấy, không phải thưởng; nếu có người dọn bàn, để lại 50 xu tiền thưởng.
- Ở quán ăn nhỏ, thưởng 1 gia-kim hoặc 10%.
- Ở nhà hàng khách tự lấy thức ăn (buffet), thưởng 10%.
- Ở nhà hàng lớn, thưởng 15%. Một vài nhà hàng ở Âu-châu in sẵn trên phiếu tính tiền định mức tiền thưởng, có khi lên tới 20 hoặc 25%.
Nếu dùng phiếu bớt tiền (coupons) khi ăn nhà hàng, nên thưởng tiền phục-vụ căn-cứ theo nguyên giá.
- Ở nhà hàng sang trọng, tiền phục-vụ 20%. Nếu gửi áo khoác, thưởng 1 đô-la mỗi áo. Thưởng nhân-viên cất xe (valet parking) 2 đô-la, và nhân viên trực phòng vệ sinh 1 đô-la.
- Ở khách sạn nhỏ (motel, motor-inn): thưởng bồi phòng 2 đô-la, để trên bàn ngủ vào mỗi buổi sáng trước khi ra khỏi phòng.
- Ở khách-sạn lớn, thưởng nhân-viên cất xe 2 đô-la; thưởng bồi khách-sạn 5$ khi họ mang hành-lý lên tận phòng và thưởng họ mỗi khi ông sai họ đi mua báo, mua thuốc lá, mang rượu và thứ ăn lên phòng,.. thưởng bồi phòng 10$ mỗi ngày (ở khách sạn 5 sao, thưởng 20$ mỗi ngày).
Không cần thưởng nhân viên trực cửa hay trực thang máy. Tuy nhiên, nếu nhờ họ gọi tắc-xi hay xách hộ món gì ra khỏi thang máy, thưởng 5$.
Không cần thưởng thư ký ở quầy tiếp khách; tuy-nhiên nếu nhờ họ nhiều thứ (hỏi về thành-phố, nhờ gọi tắc-xi,..) thưởng 10$.
Nên chuẩn bị sẵn tiền lẽ để thưởng, tránh cảnh móc túi trên túi dưới không có, rồi khất lại. Đừng mượn xe đẩy hành-lý của bồi khách sạn, đó là dụng cụ hành nghề của họ.
- Thợ cắt tóc, uốn tóc: thưởng 15%.
Nếu nhiều người cùng phục vụ ông, thưởng thợ chính 10%, các thợ phụ 10% (chia nhau) và thợ làm móng tay 2$ hoặc 10%.
Anh Tư

Copyright © 2008 - All rights reserved.