bao the gioi


Mùa Thu trong Thi ca Việt Nam
Tuyết Mai


Mùa Thu kéo dài ba tháng, bắt đầu từ 21 Tháng 9 đến 21 Tháng 12. Mỗi năm cứ sau Halloween, thờii tiết bắt đầu trở lạnh, lá cây trổ màu, buổi sáng có sương mù, bầu trời ãm đạm, âm u, xế trưa có nắng vàng hanh và gió heo may, lá vàng rơi nhẹ làm cho cảnh Thu thêm thơ mộng, xao xuyến những tâm hồn nghệ sĩ.

Vào mùa Thu ngày ngắn, đêm dài và hơi lạnh nên lá cây bắt đầu trổ màu. Có năm thời tiết thuận hòa, thích hợp, lá Thu trổ màu vàng, đỏ, cam, nâu thật rực rỡ và còn trên cành rất lâu, tạo nên cảnh Thu tuyệt đẹp, nhất là ở những con đường quanh co trong rừng, trong công viên, bên suối róc rách, hay rừng cây soi bóng trên mặt hồ phẳng lặng.

Màu sắc lá rực rỡ hay không, là tùy nhiều yếu tố như thời tiết, độ ẩm trong không khí, ánh nắng mặt trời và những hóa chất trong lá cây.

Vào Thu, không cần phải đi vào rừng hay đi xa mới có thể thưởng lãm cảnh Thu Vàng rực rỡ mà ngay trong thành phố, trước sân nhà, lá cũng trổ màu thật đẹp, rơi rụng đầy sân, hay bay nhẹ như bướm vàng theo từng cơn gió thoảng, đủ gợi hứng cho những người yêu thơ hay yêu nghệ thuật nhiếp ảnh có những tác phẩm để đời.

Theo sự phân tích của những nhà khoa học thì vào Thu lá cây trổ màu vàng đỏ, nâu là vì chất diệp lục tố (chlorophylls) có sẵn trong lá cây bị xuống thấp dần, rồi hóa chất “ carotenoids” làm cho lá cây có màu tím, vàng, cam, nâu hiện lên, và chất “ anthoycanins” làm cho cành đổi màu đỏ hay tím. Mỗi loại cây có lá trổ màu khác nhau, những cây như oak, maple, wattle... lá trổ đỏ, vàng, cam, nâu thật tươi đã tạo cảnh trời Thu thật rực rỡ, tuyệt đẹp.

Nhưng cái đẹp, cái thơ mộng, diễm ảo của dáng Thu không phải chỉ ở lá vàng rực rỡ mà ở Tiết Thu và Tình Thu, nhờ thế mà Thu là một đề tài rất phong phú trong thi văn Việt Nam. Những nhà thơ tiền chiến như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Ðà, Lưu Trọng Lưu, Huy Cận... nhờ sự phong phú của tâm hồn, họ đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam nhiều bài thơ Thu bất hủ, làm say mê lòng người.
Trong Hội Thơ Tao Ðàn của Vua Lê Thánh Tôn có bài thơ “Vịnh Cảnh Mùa Thu” như sau:

Lác đác ngô đồng mấy lá bay
Tin Thu hiu hắt lọt hơi may
Ngàn kia cách nước so le (véo von) địch (sáo)
Mái nọ bên tường đủng đỉnh chày (giả gạo)
(Vịnh Cảnh Thu)

Cảnh Thu bị chế ngự bởi vẻ áo não của lá vàng lác đác rụng rơi trong cái se lạnh của gió đầu mùa. Cây cảnh thật đìu hiu, nhạt nhòa trong sương khói, vạn vật như ngẩn ngơ, u uất. Nguyễn Khuyến tả cảnh Thu bên hồ:

“Ao Thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền con bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo “
“Ao Thu” (Nguyễn Khuyến)

Tản Ðà là nhà thơ phất cờ văn chương Việt Nam sau Nguyễn Khuyến, trong năm 1920 Ông đã viết bài “Cảm Thu, Tiễn Thu”:

“Từ vào Thu đến nay
Gió Thu hiu hắt
Sương Thu lạnh
Trăng Thu bạch
Khói Thu xây thành
Lá Thu rơi rụng đầu ghềnh
Song Thu đưa lá bao ngành biệt ly
Nhạn về én lại bay đi
Ðêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa”

Cảnh thiên nhiên của Thu rất đẹp, gợi cảm nhưng vẻ đẹp này gắn liền với hình ảnh lá vàng héo úa, tàn phai, rơi rụng, lại thêm bầu trời mờ ảo với sương mù và mây trời ảm đạm nên thơ về Thu thường có nét buồn. Bài thơ “Ðây Mùa Thu Tới” của Xuân Diệu khởi đầu với bốn câu:

“Rặng liễu điều hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Ðây mùa Thu tới – mùa Thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Mây vẫn từng không chim bay đi
Khi trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn ra nghĩ ngợi gì”
“Ðây Mùa Thu Tới” (Xuân Diệu)

Tế Hanh đã tả cảnh Thu trong sáng và ví trăng Thu với mắt người yêu:

“Trong khi mùa lại đón Thu sang
Thủy tinh trong suốt tầng không khí
Rót mật bầy ong trải nắng vàng
Trời xanh êm soi nước xanh êm
Mây như lụa mỏng, gió tơ mềm
Tiếng ai thầm gọi trong trăng sáng
Một ánh mong chờ gợn mắt em?”

Bích Khê không chỉ làm thơ mà “sáng tạo” thơ, Ông đã chịu ảnh hưởng của thi ca “khích động” của chủ nghĩa lãng mạn văn học Tây Phương. Bích
Khê đã vận dụng những yếu tố nghệ thuật cuồng phóng để diễn tả cảnh trời Thu như sau:

“Ðêm nay hồn lặng làm sao!
Cảnh Thu ôm cả chiêm bao vào lòng
Sao xanh lợt phím tơ đồng
Gió ơi là gió, buồn Ðông thổi về
Không gian mưa lệ đầm đìa
Ðầy sân trắng toát hoa lê đầu mùa
Trời lam ứ đặc tình Thu
Ô kìa mây bạc nặng lùa về tây!
Hồn sao không động mà say!
Chà! Ðôi chim khứu nó bay tung trời
Nhạc đâu bỗng vót từng khơi,
Hồn theo với nhạc, hồn ơi là hồn!”

Nhà thơ Hồ Dzếnh nhìn cảnh Thu mà nhớ bạn, người bạn ra đi mãi mãi không về:

“Và từ đấy Thu sang tôi lạnh giá
Tôi chia thương với kẻ cuối chân trời
Và tin chắc bên đường rụng lá
Bạn cũng buồn chạnh nghĩ đến tình tôi
Nhưng Thu sang rồi Thu lại sang
Bao phen sắc lá đổi thay vàng
Tôi không dám hẹn mong gì nửa
Bạn chết lâu rồi, ngậm tiếng than!
Mãi đến chiều nay nhắc chuyện xưa
Tưởng người theo mãi chuyến tàu Thu
Tôi nhìn chân gió run trong lạnh
Chỉ thấy mây buồn tỏ vất vơ”
“Chuyến Tàu Thu”

Trong thơ của TTKH có rất nhiều dòng thơ viết về mùa Thu:

“Một chiều Thu trước buổi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương
Tôi sợ chiều Thu nhạt nắng mờ
Chiều Thu hoa đỏ rụng chiều Thu
Gió về lặng lẽ chân mây vắng
Người đã sang sông đứng ngóng đò”

Ðấy là những vầng thơ Thu thời tiến chiến. Sau cuộc đổi đời năm 1975, hằng triệu người Việt tỵ nạn bỏ xứ ra đi, ai cũng mang theo trong tâm tư một mảnh vườn hoài niệm. Trong mảnh vườn hoài niệm đó có hình ảnh của người yêu, nhà thơ Hà Bỉnh Trung viết về Thu và người yêu:

“Mỗi năm đến, mỗi mùa Thu lộng lẫy
Là mỗi lần như thức tỉnh cơn mê
Mỗi buổi sáng lúc vầng dương vừa dậy
Nghe quạ kêu rời rạc, đợi em về.
Mới thoáng chốc đã bao mùa Thu tới
Ðời vào Thu , tình cũng đã sang Thu.
Kỷ niệm đẹp - Ôi! nhớ thương vời vợi
Như lá vàng, theo cánh bướm phù du!”

Nhà thơ Yên Sơn đến Boston vào mùa Thu đã cảm hứng và không có cảnh nào tình tứ hơn cùng em dạo bước chiều Thu:

“Cùng em đi dạo chiều nay
Thu đổi màu lá, tình thay đổi người
Nhìn em lòng bỗng reo vui
Nhìn em tôi bỗng thấy đời dễ yêu
Cùng em lay gọi rừng chiều
Cùng em đón dáng Thu kiêu sa về”
“Cùng Em Dạo Bước Chiều Thu” (Yên Sơn)

Nhà thơ Vương Ðức Lệ cùng nguồn rung cảm như những nhà thơ trên trong cảnh Thu ảm đạm và gió heo may làm rơi rụng lá vàng khô. Những kỷ niệm Thu năm xưa không thể không phai mờ trong ký ức khách tha huơng:

“Sáng nay lạnh, trời se Thu Hà Nội
Nỗi nhớ thầm lên tiếng gọi thầm Em
Mây đùng đục mây che màu của khói,
Em đáp lời, giọng nói bỗng gần thêm
Kéo cổ áo qua Hàng Ðào buổi ấy
Gió bờ hồ mưa bụi ướt đôi vai
Trời chớm Thu chia tay buồn biết mấy
Áo vàng phai màu cúc sắc tàn phai
Sáng nay lạnh trời se Thu Hà Nội
Bao năm qua còn tấy vết thương đầu
Em tóc trắng có nghe thầm tiếng gọi
Mộng xưa nào thấp thoáng đợi chiêm bao”

Mùa Thu đã đến, cảnh Thu rất quyến rũ và buồn với lá vàng rơi cùng mây Thu ảm đạm. Trong ngục tù tăm tối ở quê nhà, Lê thị Công Nhân có hay mùa Thu tới không?

“Trong ngục tối em có hay mùa Thu tới?
Trong bóng đêm em có nghe uất hận căm hờn
Hẹn em nhé!
Mùa Thu sau quê hương đổi khác
Không âu sầu lác đác lá Thu rơi
Mà trong gió cờ vàng bay phất phới
Mùa Thu sau sẽ thay đổi mới
Sẽ cùng em ta cười nói thiết tha.”

Tuyết Mai



Copyright © 2008 - All rights reserved.