bao the gioi


HOÀ BÌNH VÀ CHIẾN TRANH.
Huệ Vũ


Ngày thứ Sáu, 9/10, Ủy Ban Nobel Hoà Bình ở Na Uy thông báo Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã được chọn để trao giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 2009 vì đã có những nỗ lực ngoại hạng nhằm củng cố mối liên hệ ngoại giao quốc tế, hợp tác giữa các dân tộc, cắt giảm các kho vũ khí nguyên tử, đem lại hy vọng và tương lai tốt đẹp hơn cho thế giới.

Tổng thống Obama được trao giải Hoà Bình trong lúc mới làm tổng thống Hoa Kỳ mới được 9 tháng. Mặc dù đã đưa ra nhiều mục tiêu, ông ta vẫn chưa tạo được sự tiến triển nào đối với hoà bình Trung Ðông, đang gặp phải những sự chọn lựa khó khăn đối với chiến trường Afghanistan, tình hình Iraq cũng trở nên bất ổn hơn, việc giải quyết vấn đề nguyên tử Bắc Hàn, Iran cũng chưa có ánh sáng nào ở cuối đường hầm.

Ngay sau khi Ủy Ban Nobel Na Uy tuyên bố trao tặng giải thưởng cho Tổng thống Barack Obama, Thủ tướng Ðức Angela Merkel đang tham dự một buổi lễ kỷ niệm ngày sụp đổ của chế độ Cộng sản Ðông Ðức ở thành phố Leizpig đã phát biểu: “Ðức và các nước cần ủng hộ Tổng thống Obama để tạo hoà bình cho thế giới, hiện còn nhiều việc cần phải làm nhưng các cánh cửa để đi tới hoà bình đang rộng mở...

Quyết định của Ủy Ban Nobel là một sự khích lệ đối với Tổng thống Obama và tất cả mọi người cần phải ủng hộ ông ta.” Ðúng như lời tuyên bố của Thủ tướng Merkel, giải Nobel hoà bình năm nay chỉ là một sự “khích lệ”, mà không phải căn cứ trên quá trình thành công và đã đóng góp thực sự cho hoà bình của người được chọn lựa đêẩ trao giải thưởng có giá trị vật chất chỉ 1.42 triệu mỹ kim, nhưng có giá trị tinh thần và vinh dự lớn nhất của thế giới hiện nay.

Giải thưởng Nobel đã ra đời qua di chúc của nhà kỹ nghệ và hoá học Alfred Nobel năm 1895 và vào năm 1901, Ủy Ban Nobel đã trao tặng 5 giải thưởng đầu tiên gồm vật lý, hoá học, văn chương, y tế và hoà bình. Khác các với các giải Nobel khác được Ủy Ban Nobel ở Stockholm - Thụy Ðiển chọn lựa; giải Nobel Hoà Bình lại do một ủy ban 5 người được quốc hội Na Uy chỉ định chọn lựa. Buổi lễ trao giải được tổ chức vào ngày 10 tháng 12 mỗi năm tại Toà Ðô Chính Oslo, Chủ tịch Ủy Ban Nobel Na Uy sẽ trao giải thưởng trước sự chứng kiến của quốc vương Na Uy. Ngày hôm sau là một đại nhạc hội Nobel Hoà Bình được trực tiếp truyền thanh, truyền hình trên 150 quốc gia trên thế giới. Tổng thống Obama đã nói rằng ông không xứng đáng nhận vinh dự lớn lao này, nhưng sẽ nhận giải và hiến số tiền cho các qũy từ thiện.

Việc Tổng thống Obama được trao giải Nobel đã gây nhiều tranh cãi trên thế giới. Giáo sư Ronald Krebs của trường đại học Minnesota nói rằng Ủy ban đã tặng giải cho người có ý định tìm kiếm hoà bình thì Tổng thống Obama là một người xứng đáng. Cựu Tổng thống Ba Lan Lech Walesa là một người nhận giải Nobel hoà bình năm 1983 đã tỏ ra bàng hoàng với việc trao tặng, cho rằng quá nhanh, quá sớm. Phe bảo thủ ở Hoa Kỳ thì nhiều người đã bày tỏ tức giận.

Giải thưởng Nobel năm nay có tất cả 204 nhân vật và 33 tổ chức được chỉ định, trong đó có rất nhiều chỉ định viên đã đóng nhiều công lao để tranh đấu cho nhân quyền, bảo vệ môi trường và hoà bình thế giới, nhưng Tổng thống Obama là người duy nhất được chọn. Giám đốc viện nghiên cứu nhân quyền của Barnard College là Giáo sư J. Paul Martin phát biểu: “ Cái nhìn về sự thay đổi đối với chính sách của Tổng thống George W. Bush tại Hoa Kỳ hoàn toàn cách biệt hẳn với cái nhìn và hy vọng của thế giới đối với nước Mỹ. Lá phiếu của Ủy Ban Nobel Na Uy là lá phiếu bày tỏ sự tin tưởng và hy vọng.”

Dù phản đối hay ủng hộ, sự thực không chối cãi của giải Nobel Hoà Bình năm 2009 chỉ là một sự khích lệ đối với Tổng thống một siêu cường quốc. Hy vọng Nhiệt tâm hoà bình của vị tổng thống Hoa Kỳ có thể làm thay đổi cục diện thế giới. Tuy nhiên, giải Nobel Hoà bình được trao tặng trong lúc uy tín của Tổng thống Obama đang xuống mức thấp nhất. Mức chấp thuận của dân chúng đối với ông chỉ còn trên 50% so với mức cao nhất gần 79% trước đây. Những nỗ lực của ông không đem lại sự sáng sủa nào và còn có vẻ đen tối hơn nhiều.

Ưu tiên hàng đầu của chính sách ngoại giao Tổng thống Obama là nối lại cuộc đàm phán hoà bình giữa Do Thái và Palestine đã bị đình chỉ sau khi Do Thái xua quân tấn công dải Gaza trong cuối tháng 12/08 và đầu tháng 01/09. Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Obama đã chỉ định Cựu Nghị Sĩ George Mitchell làm đặc sứ hoà bình Trung Ðông, vận động Do Thái và Palestine trở lại bàn đàm phán, và vị đặc sứ này đã làm con thoi qua lại giữa hai bên không biết bao nhiêu lần. Lập trường đầu tiên của chính phủ Obama là kêu gọi Do Thái và Palestine tôn trọng lộ trình hoà bình năm 2003 do Bộ Tứ gồm Hoa Kỳ, Nga, Liên Âu và Liên Hiệp Quốc đề nghị, được Thủ tướng Do Thái Ariel Sharon và Tổng thống Madmoud Abbas của Palestine chấp nhận qua Hội nghị thượng đỉnh với Tổng thống George W. Bush ở Aqaba, Jordan.

Theo Lộ trình Hoà bình 2003, Palestine phải từ bỏ bạo động, Do Thái phải ngưng xây cất mở rộng các khu định cư, đàm phán thành lập quốc gia Palestine, sống chung, song song và hoà bình với Do Thái.

Hy vọng của thế giới Á Rập đối với Tổng thống Obama đã lên rất cao sau chuyến viếng thăm thủ đô Cairo của Ai Cập, nhưng từ tháng 9 đến nay họ đã bày tỏ sự thất vọng đối với việc Tổng thống Obama thay đổi lập trường, từ đỏi hỏi Do Thái ngưng xây cất định cư sang chấp nhận xây cất giới hạn. Ngoại trưởng Clinton, người từng tuyên bố “stop” là “stop”, đã tạo nên sự bất mãn lớn hơn qua chuyến đi Trung Ðông vận động hoà bình của bà, tuyên bố trong ngày 31/10 “ việc mở rộng các khu định cư một cách giới hạn của Thủ tướng Netanyahu là một điều chưa có tiền lệ trong lịch sử, việc Palestine đòi Do Thái ngưng hoàn toàn việc xây cất cũng không nên coi là điều kiện tiên quyết để trở lại bàn đàm phán.” Nội các Do Thái họp vào ngày sau đó đã hết lời khen ngợi Ngoại trưởng Clinton, tuyên bố “cộng đồng quốc tế” chấp nhận Do Thái tiếp tục mở rộng định cư!
Thất vọng với sự thay đổi của Hoa Kỳ, Tổng thống Mahmoud Abbas tuyên bố sẽ không ra ứng cử trong cuộc bầu cử ngày 24/1/2010.

Tổng thống Abbas là người đã lên thay thế ông Yasser Arafat cách nay 5 năm, ông đã bị chỉ trích đã để cho Hamas chiến thắng cuộc bầu cử quốc hội năm 2006 và sau đó để Hamas chiếm quyền kiểm soát dải Gaza làm chia rẽ nội bộ Palestine, nhưng ông ta là người đang lãnh đạo Fatah và Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và hiện giờ trong 2 tổ chức này đều chưa có người có đủ uy tín để thay thế. Là một người xây dựng sự nghiệp chính trị qua việc thương thuyết với Do Thái, là người ký hiệp ước Oslo, ông Abbas tin tưởng sẽ có thể thành lập một quốc gia Palestine sống chung song song với Do Thái. Ông ta là người Hoa Kỳ đặt hy vọng có thể cùng Do Thái ký kết hiệp ước hoà bình. Sự ra đi của ông ta sẽ làm cho tiến trình hoà bình sau gần một năm không có dấu hiệu tiến triển nào sẽ bị bế tắc.

Sự thay đổi lập trường của Tổng thống Obama là một sự vụng tính thảm hại. Chính phủ Obama đã không thấy rằng, nếu ông Abbas chịu áp lực của Hoa Kỳ trở lại bàn đàm phán trong lúc Do Thái tiếp tục xây cất, bành trướng các khu định cư ở Tây Ngạn, phá dỡ nhà cửa của người Palestine ở Ðông Jerusalem, thì điều này chỉ làm cho người dân Palestine cho rằng quan điểm không nên tin tưởng thiện chí hoà bình của Do Thái và Hoa Kỳ của Hamas là quan điểm đúng! Chỉ giúp cơ hội cho Hamas chinh phục thêm cảm tình của người Palestine.

Viễn ảnh đưa Do Thái và Palestine đang trở nên u ám hơn, thì xung đột giữa người Palestine và Do Thái ngày càng có nhiều nguy cơ bùng phát hơn. Trong thời gian gần đây, thường xuyên diễn ra những vụ xung đột giữa người Palestine và quân đội Do Thái. Vụ xung đột lớn nhất đã diễn ra tại ngôi đền thiêng Al-Aqsa trong cuối tháng 10, Do Thái đã đưa tới ngôi đền cả ngàn cảnh sát để dẹp các cuộc biểu tình ném đá của người Palestine. Ðền Al- Aqsa hay ngôi đền vòm đá xây lên từ thế kỷ thứ 7, được coi là nơi thiêng liêng đứng hàng thứ 3 của thế giới Hồi Giáo, sau Mecca và Medina. Ðịa điểm ngôi đền lại được người Do Thái coi là nơi thiêng liêng của họ. Nơi đây được truyền tụng là nơi ông Abraham định giết người con trai để dâng Chúa, và là nơi vua Salomon đã xây lên ngôi đền để thờ phụng Chúa Trời 3000 năm trước. Ngôi đền này bị người Babylone phá bỏ và đã được vua Herod xây lại với tầm vóc đồ sộ và to lớn hơn nhiều vào năm 516 trước Tây Lịch. Sau đó ngôi đền này lại bị Ðế Quốc La Mã phá hủy. Ngày nay Bức Tường Phiá Tây được cho là di tích của ngôi đền xưa, trở thành nơi thiêng liêng cầu nguyện của người Do Thái. Vào năm 2000, Thủ tướng Ariel Sharon cùng một số đảng viên đảng Likud đã tới viếng ngôi đền đã tạo nên cuộc thánh chiến “Al Aqsa infidata” kéo dài gần 7 năm.

Việc một số giáo sĩ Do Thái Giáo cùng một số người cực đoan khiêu khích vào ngôi đền tạo nên vụ xung đột ngày 25/10; sự thất vọng đối với sự thay đổi lập trường của Hoa Kỳ trên vấn đề định cư, việc Hoa Kỳ mạnh mẽ chống nghị quyết của Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đòi hỏi Do Thái và Hamas phải điều tra những tội ác được bản phúc trình của Ủy ban Nhân quyền LHQ do Thẩm phán Goldstone cầm đầu càng tạo thêm sự thất vọng của khối Á Rập. Mục tiêu tạo hoà bình cho Trung Ðông là mục tiêu hàng đầu của chính phủ Obama hình như đang vẽ gà hoá cuốc!
Mục tiêu thứ nhì là bình định Afghanistan của Tổng thống Obama cũng đang trở nên u ám hơn.

Gánh nặng Afghanistan là gánh nặng sai lầm của chính phủ George W. Bush trao lại. Cuộc chiến nhằm tiêu diệt Taliban và al-Qaeda, căn cứ của tổ chức khủng bố quốc tế, là cuộc chiến tràn đầy chính nghiã, không chỉ được dân chúng Hoa Kỳ mà đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Thế nhưng, thay vì dùng hết khả năng để bình định quốc gia này, truy đuổi và tìm diệt thành phần khủng bố chạy trốn ở biên giới Pakistan, chính phủ Bush đã mở thêm một cuộc chiến mới, sa lầy ở Iraq, tập trung hầu hết khả năng giải quyết trường Iraq, tạo cơ hội cho Taliban sống dậy.

Sau khi lên nhậm chức, Tổng thống Obama quyết định đưa thêm đến Afghanistan 17 ngàn quân, nhưng vào cuối tháng 8/09, Tướng Stanley McChrystal, chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ và NATO ở Afghanistan đã đệ trình cho bộ quốc phòng một bản phúc trình dày 66 trang, cho biết tình hình đang trở nên nghiêm trọng và yêu cầu tăng viện thêm 40 ngàn quân nữa. Nếu không có thể bị thất bại! Hiện giờ NATO đang có 39 ngàn quân, Hoa Kỳ có 65 ngàn quân tại chiến trường. Tháng 10/09 đã trở thành tháng có con số tử thương lớn nhất của quân đội Hoa Kỳ kể từ khi cuộc chiến khởi đầu vào năm 2001.

Các kết quả thăm dò gần đây lại cho thấy con số tỷ lệ ủng hộ chiến trường Afghanistan của dân chúng đang bắt đầu xuống thấp. Theo một thăm dò của CNN trong tháng 9/09, con số ủng hộ chiến tranh Afghanistan chỉ còn 42% so với 89% trong năm 2001.

Cuộc chiến cũng đang tạo mệt mỏi cho các nước đồng minh NATO, qua hội nghị bộ trưởng quốc phòng ở thủ đô Bratislava, Slovakia, từ ngày 22 đến 23 tháng 10, NATO tuyên bố ủng hộ đề nghị của tướng McChrystal, nhưng không có nước nào chịu hứa hẹn đóng góp thêm quân số.

Anh là quốc gia đóng góp nhiều đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ, với 9.000 ngàn quân, cũng đang gặp sự chống đối trong nước. Theo kết quả thăm dò của đài truyền hình Channel 4 trong ngày 6/11, chỉ có 32% dân chúng trong nước cho rằng đồng minh có thể thắng trận ở Afghanistan. Kết quả cuộc bầu cử bị gian lận cả triệu phiếu, nhưng Tổng thống Karzai được tuyên bố đắc cử sau khi ứng cử viên Abdullah Abdullah tuyên bố rút lui, đã làm dân chúng các nước càng ít tin tưởng vào chính phủ tham nhũng của Tổng thống Karzai hơn.

Chiến lược của Hoa Kỳ và đồng minh NATO hiện nay cũng gần giống với chính sách Việt Nam hoá chiến tranh trước đây với chủ trương mau chóng huấn luyện trang bị cho quân đội và cảnh sát Afghanistan đủ khả năng bảo vệ đất nước, chống lại Taliban để rảnh tay rút lui. Hiện giờ quân đội Afghanistan chỉ mới có 82 ngàn người và lực lượng cảnh sát được 134 ngàn người.

Tình hình chiến trường Afghanistan đang trở nên không mấy sáng sủa, thì nước láng giềng Pakistan có bom nguyên tử hiện cũng đang phải đối phó với Taliban. Chiến trận trong hai tỉnh Nam, Bắc Waziristan trong thời gian gần đây đã làm cho ít nhất 350 ngàn dân phải tản cư.

Tóm lại, mặt trận ở Afghanistan đang mở rộng hơn, có thể tạo nên chiến tranh khu vực, Hoa Kỳ có đủ kiên nhẫn tham gia một trận chiến tranh lâu dài hay không là điều khó biết được. Theo lý thuyết quân sự của Hoa Kỳ, để chống lại một cuộc chiến tranh nổi dậy tại một nước có dân số như Afghanistan phải cần 400 ngàn quân. Ðiều chắc chắn là với tình hình lòng dân lúc này, chính phủ Obama không thể nào đưa tới chiến trường một nửa số quân cần thiết theo lý thuyết.

Trong lúc ấy, vấn đề nguyên tử Iran cũng không mấy sáng sủa. Ðầu tháng 10, thương thuyết trưởng nguyên tử Iran là ông Saeed Jalili đã gặp đại diện lục cường: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Trung Cộng, Pháp, Ðức, đồng ý giải quyết vấn đề nguyên tử nước này bằng cách đưa uranium làm giàu thấp (LEU) qua Nga và Pháp. Qua các cuộc họp ở Vienna giữa đại diện Iran, Hoa Kỳ, Nga, Pháp từ ngày 21/10, Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA) đưa đề nghị Iran chuyển chuyển 1.2 tấn LEU trong số 1.5 tấn mà nước này đang có qua Nga và Pháp vào cuối năm nay. Số LEU sẽ được Nga làm giàu thêm với độ tinh luyện 20%, sau đó chuyển qua Pháp biến thành nhiên liệu nguyên tử, chuyển lại cho Iran để nước này dùng cho một lò phản ứng chế chất phóng xạ đồng vị trị bệnh ung thư. Các nước đều chấp nhận đề nghị này, nhưng câu trả lời của Iran là phải thương lượng lại. Ngay sau khi đề nghị của IAEA được đưa ra, cựu thương thuyết trưởng nguyên tử Ali Larijani, hiện là chủ tịch quốc hội Iran, tuyên bố Tây Phương đang chơi trò lừa phỉnh đối với nước này.

Tình báo Hoa Kỳ và Tây Phương cũng đã chứng tỏ không nắm vững chương trình nguyên tử Iran. Vào tháng 9, quốc tế đã phải ngạc nhiên khi biết Iran đã thành lập một nhà máy làm giàu uranium xây trong lòng núi, nằm gần thành phố Qom, một thành phố thánh địa Iran. Và chỉ biết tới nhà máy này sau khi Iran tự thông báo cho IAEA và Iran cũng đã để cho chuyên viên IAEA đến thanh tra nhà máy này trong các ngày gần cuối tháng 10. Hoa Kỳ và Tây Phương cho rằng Iran đang âm mưu chế tạo bom nguyên tử, Tehran luôn luôn chối, tuyên bố làm giàu uranium chỉ có mục đích thành lập các nhà máy điện. Tuy nhiên đề nghị đưa 75% số LEU của Iran qua Nga và Pháp để sau đó trao lại cho Iran dùng cho lò nghiên cứu y khoa, vẫn không bị Iran thẳng thắn bác bỏ đã trở thành một điểm rất khó hiểu. Trong lúc Iran chưa dứt khoát trả lời đề nghị IAEA, ngày 5/11 vừa qua, cơ quan IAEA lại đòi Iran phải giải thích những bằng chứng cho thấy các nhà khoa học Iran đã thí nghiệm một loại đầu đạn tân tiến và các nhà chuyên viên nguyên tử đã coi đây là một tin nín thở. Theo tài liệu của IAEA, Iran đang nghiên cứu chế đầu đạn “two point implosion”, là một phương pháp chế tạo bom nguyên tử vẫn còn cực kỳ giữ bí mật ở Hoa Kỳ và Anh.

Nếu vấn đề nguyên tử Iran không thể giải quyết qua phương thức ngoại giao, tin tức Iran đang tiến bộ vượt bực trong việc nghiên cứu vũ khí nguyên tử rất có thể đưa tới chiến tranh. Do Thái là quốc gia duy nhất có vũ khí nguyên tử trong vùng, sẽ coi Iran - một quốc gia không công nhận sự hiện hữu của Do Thái, có vũ khí nguyên tử là điều không thể chấp nhận. Ngày 5/11, Hải quân Do Thái chận bắt chiếc tàu Francop của công ty Ðức Gerd Bartels được một công ty Cyprus thuê, treo quốc kỳ Antigua, tịch thu 320 tấn vũ khí, tuyên bố số vũ này là của Iran tiếp tế cho Hezbollah, nhiều nhà phân tích đã tỏ ra lo ngại chính phủ diều hâu Netanyahu sẽ lấy bằng chứng này để tấn công Iran. Sự tấn công Iran của Do Thái có thể đưa đến máu lửa trong vùng. Viễn ảnh hoà bình Trung Ðông đang mờ nhạt, thì viễn ảnh chiến tranh lại lộ dần ra.

Trong đầu tháng 7, Tổng thống Obama đã đến Moscow, tìm được sự đồng ý của Tổng thống Medvedev cắt giảm kho vũ khí nguyên tử của hai nước, hiệp ước cắt giảm sẽ được ký kết vào tháng 12. Tổng thống Obama cho rằng hiệp ước này sẽ là thí dụ gương mẫu điển hình giúp chống lại sự truyền bá vũ khí nguyên tử. Hoa Kỳ đang cần Nga cộng tác để giải quyết vấn đề nguyên tử Iran và Bắc Hàn. Trong lúc Nga cũng cần sự hoà hoãn với Tây Phương để giải quyết những vấn đề khó khăn kinh tế trong nước. Hiệp ước cắt giảm vũ khí nguyên tử 2 nước cũng là tin mừng cho hoà bình thế giới.

Tuy nhiên, đe doạ cho hoà bình hiện tại và cho tương lai gần của Hoa Kỳ không phải là Nga hay Trung Cộng. Ðe doạ của Hoa Kỳ hiện giờ là những cuộc chiến điạ phương, chống khủng bố mà Hoa Kỳ đang lãnh đạo, nói một cách khác là phải bao thầu các cuộc chiến tranh này. Nếu theo dõi tình hình, thấy rõ Nga và Trung Cộng sẽ làm cho Hoa Kỳ hài lòng sau một thời gian chống đối với các bản nghị quyết của Hội đồng Bảo An, hay các vấn đề khác rồi thoả hiệp, tỏ ra sẵn sàng tham gia giải quyết các cuộc xung đột, căng thẳng như vấn đề nguyên tử Bắc Hàn, Iran v.v. Nhưng họ không bao giờ tốn một “xu” để giúp giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới. Công việc chính của Nga là tìm thị trường bán dầu khí và vũ khí. Trung Cộng tiếp tục tìm thị trường mua nguyên liệu và bán hàng hoá rẻ. Ðây là tình trạng không mấy lạc quan cho nền hoà bình thật sự của thế giới và nền an ninh trong tương lai xa của Hoa Kỳ.

Ngày 9/11 vừa qua, thành phố Bá Linh đã tưng bừng làm lễ kỷ niệm 20 năm Bức Tường Bá Linh dài 43 cây số sụp đổ. Sự sụp đổ của Bức Tường đã đưa tới thống nhất nước Ðức, làm tan rã Liên Bang Xô Viết, cáo chung Chiến Tranh Lạnh. Trong lúc đó người dân Palestine lại đau xót nhìn Bức Tường Tây Ngạn dài 720 cây số là biểu tượng của sự chiếm đóng, cướp đoạt đất đai. Trong lúc đến thăm Trung Ðông trong tháng 5 năm 2009, đức Giáo Hoàng Benedict đã từng tuyên bố bức tường là sự bế tắc của hòa bình Trung Ðông. Tổng thống Obama có lẽ hiểu rõ không giải quyết tranh chấp Trung Ðông khó có thể tìm hoà bình với thế giới Hồi Giáo. Nhưng hình như hiểu là một việc, làm được hay không là một việc. Không có gì nghi ngờ tổng thống Obama có thiện chí hoà bình, nhưng ông cũng sẽ khó vượt được sức mạnh của khối quyền lực thực sự lãnh đạo nước Mỹ.

Ðe doạ cho nhân loại trong tương lai gần không phải là nguyên tử mà hình như là tinh thần tôn giáo cực đoan của con cháu đấng Allah và con cháu ông Abraham. Nhiều nhà “tiên tri” cho rằng chiến tranh tận diệt sẽ sớm xảy ra.. biết đâu sẽ đúng. Ông Obama nhận giải Nobel hoà bình chỉ là một sự khích lệ, tạo được hoà bình.. hình như lại rất xa vời!

Huệ Vũ

Copyright © 2008 - All rights reserved.