bao the gioi


CHIẾC LÁ THU PHAI
Hoa-Hoàng-Lan


“Bao giờ thì thầy về lại bên kia?”
Thảng giật mình, quay đầu lại. Con bé nghiêng đầu nhìn chàng, cái miệng cười toe, trong khi hai con mắt lại ánh lên tia nhìn chờ đợi. “Quái lạ! Con bé không học mình bao giờ, mà cứ một tiếng “thưa thầy”, hai tiếng “thưa thầy” đến là... lạ!”
Nghĩ thế, nên Thảng tinh nghịch hỏi lại:
“Bên kia là bên nào?”
“Thầy còn phải hỏi nữa? Bên kia là bên tay trái của thầy. Bên có quả tim đó!”
Thảng lại giật mình lần nữa. Câu nói giống hệt câu nói của Trâm - vợ chàng - khi hai người mới quen nhau. Ði với nhau, khi nào Trâm cũng đòi đi bên tay trái của chàng và bảo là “...bên trái là bên có quả tim. Em đi bên trái để gìn giữ quả tim của anh.” Khi cưới nhau rồi, Trâm luôn dành nằm bên tay trái của chàng cũng vẫn với lý do đó, cộng thêm “...để em nghe tim anh đập và nói “Thảng chỉ yêu có một mình Trâm”.
Thế nhưng, ai mà ngờ rằng chỉ vài năm sau, Trâm đã để mặc cho quả tim trong vùng ngực bên trái của chàng muốn nói gì thì nói, muốn nghĩ gì thì nghĩ. Còn nàng, chỉ lo chạy theo những sở thích về hội họa của nàng. Ðôi khi nàng quên không quan tâm đến chàng, đến nỗi vài lần vào lớp, chàng nghe đám nữ sinh rúc rích cười với nhau. Nữ sinh trung học lớn cả rồi, lại rất tinh quái khi thấy ông thầy phục sức nhếch nhác. Sở dĩ chàng biết vì khi Hương, nữ sinh trưởng lớp lên trình sổ điểm, chàng đã hỏi nhỏ:
”Mấy em cười cái gì mà vui thế?”
thì cô bé trưởng lớp thành thật trả lời:
“Tụi nó cười thầy quên chưa thay áo. Thầy mặc lại cái áo hôm qua dính mực.”
“À ra thế!” Chàng chợt cảm thấy xấu hổ với đám nữ sinh ranh mãnh, tinh nghịch. Nhưng khi nghĩ lại, chàng lại thấy người đáng trách là Trâm chứ không phải là chàng. Vợ mà không săn sóc áo quần cho chồng, để học trò cười chê, thì rõ ràng lỗi không phải ở chàng...
Quay lại hiện tại với con bé, chàng ra vẻ nghễnh ngãng:
“Già rồi, nhiều khi tôi quên mất quả tim của tôi nằm bên nào trong lồng ngực em ạ!”
Con bé chun mũi, nhạo chàng:
”Thầy nói giống như người mất... bóng. Chả bù với ngày xưa, em nghe chị ruột của em nói thầy được rất nhiều nữ sinh yêu mến.”
“Chị của em là học trò của tôi hay sao?”
“Vâng. Chị của em học thầy hai năm cuối. Nhưng... chị của em không có tên trong danh sách những nữ sinh ái mộ thầy.”
Thảng im lặng, mắt thoáng buồn. Tưởng chàng hiểu lầm, con bé vội nói:
“Vì chị của em đã có bạn trai và đã được hai bên gia đình tác hợp. Chờ anh học xong thì cưới.”
Tò mò, Thảng hỏi:
“Chị của em tên gì?”
“Nguyệt Thu. Thầy nhớ Nguyệt Thu không?”
Ðôi mắt chàng chợt sáng lên. Nguyệt Thu... Nguyệt Thu... Cái tên của cô nữ sinh xinh xắn, nhu mì, ít nói, đã để lại trong lòng chàng nhiều cảm giác êm đềm, dễ chịu. Chàng lại hỏi:
”Chị của em hiền ngoan, thùy mị và điềm đạm. Còn em, lanh lợi và lém lỉnh quá phải không?”
“Thầy nói đúng. Hai chị em, đứa giống cha, đứa giống mẹ. Thầy thấy mặt mũi chúng em đâu có giống nhau phải không?”
“Nếu hai em giống nhau, chắc tôi phải nhận ngay ra em khi vừa gặp. Lâu rồi, tôi cũng không gặp lại Nguyệt Thu. Không biết Nguyệt Thu bây giờ ra sao?”
Giọng chợt sũng buồn, Trâm tâm sự:
“Hiền ngoan... Thế mà cuộc đời chị ấy lại khổ thầy ạ! Chị của em vừa bị chồng bỏ năm ngoái.”
“Chồng bỏ hay bỏ chồng?”
“Thì cũng giống nhau mà thầy. Có khác gì đâu nào? Chồng bỏ hay bỏ chồng cũng buồn khổ như nhau, cũng dang dở như nhau mà thầy. Câu chuyện đau buồn của chị đã cho em một kinh nghiệm thật quý: nếu là vợ chồng trẻ, em sẽ không bao giờ cho anh ấy về Việt Nam một mình. Nếu em cản không được, anh cứ nhất định về Việt Nam, thì trước khi bước lên phi cơ, em sẽ bắt phải ký giấy ly dị với em. Ðằng nào cũng ly dị, thì thà ly dị ngay bây giờ, mình chủ động, đỡ tức hơn.”
Thảng bật cười:
”Em vừa nói “bỏ chồng hay chồng bỏ, thì cũng giống nhau”, thì ly dị trước hay ly dị sau, có gì khác nhau? Phải làm thế nào chứ, trước sau cũng ly dị thì còn gì để nói nữa.”
“Ðó là em nói đến trường hợp xấu nhất, sau khi ngăn cản, năn nỉ ỉ ôi, thuyết phục và cả van xin nữa mà không được.”
“Tôi nghĩ đâu có người chồng nào mê về Việt Nam đến bất chấp ý kiến của vợ, trừ khi có lý do chính đáng như quan, hôn, tang, tế.”
“Thế thì nói làm gì nữa. Ðằng này...”
Chợt nghe có người gọi tên, con bé đưa tay lắc lia lịa và miệng la to:
“Các bạn cứ tự nhiên đi. Mình không ăn đâu.”
Quay sang Thảng, con bé mỉm cười:
”Tụi bạn gọi em vào ăn bún ốc. Nhưng thôi. Nói chuyện với thầy... thích hơn. Em có nhiều chuyện muốn nói với thầy về đề tài thuyết trình sáng hôm qua. Em hỏi thật thầy nhé: Thầy có hạnh phúc trong hôn nhân không?”
“Nói “có” thì cũng đúng, nhưng nói “không” thì cũng chưa hẳn. Tuy nhiên, đã có nhiều bóng mây chợt ẩn chợt hiện đe dọa bầu trời quang đãng.”
“Tại sao bài nói chuyện về tình yêu vừa rồi của thầy tuyệt vời như thế, gợi ra biết bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ, thơ mộng, tình tứ, khiến cho thính giả xúc động, mà trong cuộc sống thực của thầy lại nhuốm mùi... bi ai? Em không hiểu.”
“Ơ kìa! Cuộc sống vốn trần trụi như thế mà em? Em quên rằng khi viết, người ta để hết tấm lòng trong đó, luôn cả những hoài bão, những ước mơ chưa đạt, những gì người ta đang muốn vươn tới, mà chưa được.”
Lắc đầu để cố diễn tả một sự khó hiểu và một nỗi chán chường, con bé rùn vai:
”Em không hiểu nổi. Một người như thầy, em nghĩ rằng phải đem lại hạnh phúc cho người nào được làm bạn đời của thầy. Ðằng này...”
“Thế sao em không nghĩ rằng chính người bạn đời ích kỷ và đơn điệu, đã làm thui chột những nhiệt tình, những chất lửa trong tôi?”
Ðưa tay kéo những sợi tóc dài rồi mím môi ngậm tóc vào miệng, con bé chợt im lặng, đưa mắt nhìn ra thật xa, nơi có hàng cây thay lá vàng, đỏ, cam, tía rực rỡ một góc trời. Mùa Thu ở đây không cô liêu, trái lại, đẹp với muôn mầu sắc. Nhìn hình ảnh con bé đăm chiêu, Thảng chợt nhớ đến một lần Thảng đã hỏi vợ chàng:
”Nếu sau này anh chết đi, em thương anh được bao nhiêu lâu?”
Rất thản nhiên, Trâm đáp:
”Giá bây giờ anh hỏi em còn thương anh được bao nhiêu, thì em dễ trả lời hơn. Ðằng này anh lại hỏi nếu khi anh chết đi, thì làm sao em trả lời được.”
“Tại sao?”
“Vì... Anh đã hỏi thật, thì em trả lời thật nghe. Ðừng buồn. Vì trong em đâu còn chỗ dành cho tình cảm để thương anh, mà anh hỏi được bao nhiêu. Anh đã đi theo những ước vọng của anh, bỏ mặc em một mình loay hoay và lủi thủi. Ðã có dạo em tìm quên trong sách báo và phim ảnh. May sao, hội họa đã đưa tay kịp thời và đã cứu vớt cuộc đời em. Kể từ đó, em coi như em đã không có anh trong cuộc sống!”
Thảng tê tái, lặng người. Trâm tiếp lời:
“Kể từ đó, em vùi đầu tìm vui trong người tình mới là hội họa, với mầu sắc và nét cọ. Em quên anh, quên em đang có anh bên cạnh. Nhiều khi em không nghĩ em đang có 7anh nữa. Em tưởng em độc thân như ngày xưa chưa có anh. Với ý nghĩ đó, em thấy cuộc sống của em thật thú vị và có nhiều ý nghĩa hơn.”
Thảng lại im lặng trong buồn bã. Trâm thản nhiên mở toang tâm tư nàng:
“Anh hiểu vì sao những ngày cuối tuần, em thích đi ra ngoài nhiều hơn ở nhà với anh. Bằng hữu đã cho em những niềm vui quý giá. Ðám đông đã cho em những bài học làm người. Em thích ai, thì em thân thiết với người đó và ngược lại, ai xấu thì em xa lánh họ. Em không phải thủy chung, như nhất, cần thiết một người nào.”
“Anh mà em còn không cần thiết, thì ai mà em cần nữa?”
“Anh đừng than thân trách phận. Lỗi do anh. Em chỉ là một con bé khờ, vâng lời cha mẹ, lao vào cuộc chơi tình yêu với anh. Bị anh chơi trò hững hờ, vô trách nhiệm, chỉ lo cho những đam mê của anh . Em bỏ chạy, thế thôi. Em không trách anh, nên anh lại càng không có quyền oán em. Em không bỏ anh vì em không muốn người lớn buồn, trẻ con khổ, bè bạn mất vui. Hãy giúp em giữ tình trạng này, nếu anh không muốn làm cho trở nên xấu hơn và tồi tệ hơn.”
“Thầy nghĩ gì mà thừ người ra thế? Từ khi em nhận được thiệp mời của ban tổ chức, thì em trông mau đến ngày để được gặp thầy. Không hiểu sao em cứ nghĩ thầy và em như có mối thiện duyên từ tiền kiếp. Nếu không có duyên về tình cảm, thì cũng có duyên về một thứ gì đó, văn chương nghệ thuật chẳng hạn. Em rất vui khi được nói chuyện với thầy, nhưng em không ngờ thầy có vẻ trầm mặc và sâu lắng quá. Khác với hình ảnh em tưởng tượng về thầy qua những tác phẩm thầy viết.”
“Có lẽ vẻ trầm mặc ấy đã làm cho người bạn đời của tôi chán tôi. Biết làm sao được khi cha mẹ sinh tôi, trời sinh tính! Tôi khó có thể sửa đổi, uốn nắn để vừa ý cô ấy, trừ khi tôi phải bỏ hết tất cả, về hưu trước tuổi, để chăm sóc cô ấy cùng mảnh vườn, mảng mực mầu, cây cọ, giá vẽ, khung lụa và những thú vui của nàng. Với tôi, không được sống, hít thở và nghịch ngợm với chữ nghĩa thì xem như đã chết. Việc đó còn khó hơn việc tôi đang chịu đựng sự lãnh đạm, xa cách của nàng.”
Xúc động, con bé thì thầm:
“Ðổi vị trí của nàng cho người khác. Có nhiều người ao ước được người chồng văn hay chữ tốt như thầy.”
“Ðể làm gì? Em nghĩ xem cô ấy cần văn chương chữ nghĩa của tôi để làm gì, khi cô ấy nghĩ rằng cuộc sống chỉ cần hội họa là quá đủ. Những gam mầu với mảng trời xanh, cụm mây trắng, thác nước reo, đồi núi chập chùng, cây lá thay áo theo mùa, với cô ấy đủ rồi. Em nghĩ xem, cô ấy cần văn chương làm gì nữa.”
Con bé ranh mãnh:
“Ai bảo thầy thích có vợ họa sĩ làm gì?”
Ðưa tay làm một cử chỉ vô nghĩa, Thảng im lặng. Con bé nũng nịu:
“Thầy nói đi chứ? Sao thầy cứ im lặng, để em phải đặt câu hỏi cho thầy trả lời? Thầy biết là em bỏ cả bữa bún ốc mà em rất thích, để được đứng đây nói chuyện với thầy không?”
“Hình như tôi không có khiếu nói chuyện, nên dễ làm cho người nghe chán? Hay em vào ăn bún ốc với các bạn đi. Tôi chạy ra ngoài phố một lát.”
Con bé reo lên nho nhỏ:
”Sao thầy không cho em cùng đi với thầy? Em là thổ công thổ địa ở đây, mà lại để thầy đi một mình hay sao?”
”Em sợ tôi đi lạc, hay sợ người khác bắt nạt tôi?”
“Em sợ em... lạc mất thầy! Lát nữa đây, hội trường sẽ đông lắm. Ðại biểu ở các nơi về họp, em sẽ không có giây phút riêng nào với thầy nữa.”
“Thì cùng đi. Tôi muốn ra phố mua mấy CD nhạc làm kỷ niệm.”
Con bé dành được cầm lái. Thảng trao chìa khóa chiếc xe đời mới mướn ở phi trường cho con bé. Chiếc xe lướt êm giữa đường phố đông người của chiều thứ bẩy đẹp trời. Thảng để mặc cho con bé lái đi đâu, tùy ý. Ðến khi Thảng chú ý thì xe đã ra khỏi thành phố. Con đường vắng vẻ, dài hun hút trước mặt với những đường cong uốn lượn rất đẹp, với cảnh đồi thoai thoải bên đường và những hàng cây với lá đã phai từ mầu xanh sang mầu vàng, tía từ mấy hôm nay.
“Thầy thấy những cây khoác áo mùa Thu chưa? Ðẹp tuyệt thầy ơi! Vào những ngày có gió, lá thu xào xạc đuổi nhau dưới gầm xe và hai bên đường. Em hay lang thang lái xe đi một mình như vậy. Nhiều khi thấy mình giống như chiếc lá thu phai mầu.”
Thảng im lặng vì còn mải ngắm hàng cây hai bên đường. Con bé vẫn nói chưa hết ý:
“Cũng may em không có một ông chồng để đặt câu hỏi em đi những đâu, làm những gì vào những lúc em lang thang không phương hướng thế này. Chỉ là để ngắm cây lá đổi mầu và nghe gió reo, nhìn lá phai mầu, thì làm sao giải thích được thầy nhỉ? Thầy nhớ câu chuyện “Người Ðàn Bà Ngoại Tình” của Albert Camus với văn phong dịch thuật tuyệt vời của Vũ Ðình Lưu không? Hồi đó, em đọc rồi, nhưng không hiểu gì cả, vội kêu lên “Truyện dở quá! Viết về người đàn bà ngoại tình mà đọc hết cuốn sách cũng không thấy ai ngoại tình cả. Có lẽ...”
Ðột nhiên, con bé bật đèn hiệu và cho tấp xe vào bên vệ đường. Vài chiếc xe đằng sau vội vã vượt qua. Con bé nói như ra lệnh:
“Ðổi tay lái. Thầy lái, cho em ngồi bên thầy để xem lá rụng đẹp dường nào! Em chưa có ai lái xe cho, để được ung dung ngồi ngắm cảnh hai bên đường. Mơ ước tầm thường ấy mà xem ra cũng khó khăn thầy ạ!”
Khi Thảng vòng sang đổi tay lái. Con bé bước xuống xe và trao thật nhanh cho Thảng một nụ hôn phớt qua má chàng khi chàng vừa trờ tới cửa xe bên nàng. Toàn thân Thảng rúng động dù chỉ là một lướt qua rất nhẹ giữa hai làn da. Máy xe vẫn nổ, nhưng đôi chân của Thảng như bất động bởi cái hôn bất ngờ. Con bé vòng sau xe, trở về chỗ ngồi bên ghế kia thật nhanh. Mắt đong đưa, con bé liếm môi và ra lệnh:
“Thầy lái đi. Em chỉ đường. Trở về nhà... em. Cũng gần đây.”
Trên mặt đường, lá thu như đang reo vui dưới gầm xe và hớn hở rẽ ra, tấp vào hai bên bờ cỏ. Những sắc mầu xanh, vàng, cam, đỏ, tía như trộn lẫn vào nhau.

Hoa-Hoàng-Lan

Copyright © 2008 - All rights reserved.