bao the gioi


TIỂU ÐOÀN 2 THỦY QUÂN LỤC CHIẾN - Kỳ 1
Mũ xanh Phạm Văn Tiền


Khóa 20 Võ bị Quốc Gia Ðà Lạt ra trường ngày 20-11-1965. Tình nguyện và được tuyển chọn về binh chủng Thủy Quân Lục Chiến 25 tân thiếu úy. Sau khi thụ huấn 6 tuần lễ khóa 23 Rừng núi Sình Lầy tại trung tâm huấn luyện Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ, trình diện Bộ Tư Lệnh Lữ Ðoàn TQLC và được Trung tá Bùi Thế Lân, tham mưu trưởng phân phối đều cho các tiểu đoàn tác chiến.

Về Ðơn Vị mới

Anh em chúng tôi gồm 5 người: Tiền, Minh, Liêm, Kiệt, Chính về Tiểu Ðoàn 2, hậu cứ gần chợ Tam Hà, Thủ Ðức. Ðơn vị vừa mới trở về nghỉ dưỡng quân sau cuộc hành quân dài 3 tháng, tăng phái cho quân đoàn II giải vây áp lực địch tại Ðức Cơ. Thiếu úy Nguyễn Văn Diễn trưởng ban I kiêm chỉ huy hậu cứ, tiếp chúng tôi và đệ trình danh sách theo thứ tự tuổi tác về các Ðại đội tác chiến. Nguyễn quang Minh, Hoàng như Liêm, tuổi lớn nhất về Ðại đội 1, Tr/úy Trần Kim Hoàng Ðại đội trưởng; Nguyễn Tuấn Kiệt về đại đội 2, Ðại úy Nguyễn văn Hay ÐÐT Kiêm Tiểu đoàn phó, tôi về ÐÐ3 với Tr/úy Nguyễn Ngọc Ðiệp đại đội trưởng, còn Nguyễn Quốc Chính nhỏ nhất về ÐÐ4, Tr/uý Nguyễn Xuân Phúc đại đội trưởng. Danh sách đề nghị được duyệt qua văn phòng Tiểu đòan phó trước khi được quyết định bởi Tiểu đoàn trưởng. Tôi được Ð/u TÐP (biệt danh Hay chùa) giữ lại ÐÐ2 của ông thật giản dị là Ðại đội ông ta đang có Thiếu úy Võ Tấn Tài vừa mới mãn khóa học Basic School từ Hoa Kỳ trở về, cần tôi nữa là “Tiền-Tài” đủ bộ, sẽ làm ăn khấm khá. Sau nầy anh em thường gọi đùa tôi là đệ tử “Hay Chùa”.

Tr/U Trần Văn Thuật, thiếu úy Vũ Ðoàn Dzoan, tôi, Tài hình thành được một “group” có tên là “Băng Hay Chùa” vì cùng chung một đại đội. Thiếu tá Lê Hằng Minh, tiểu đoàn trưởng, cũng vừa đảm trách đơn vị chỉ vài tháng, sau khóa học A.W.S. lần thứ 2 tại Hoa Kỳ. Tôi, một thiếu úy “sữa” tròn 21 tuổi mới ra trường, còn bỡ ngỡ lạ lùng như chim non vừa rời tổ mẹ chẳng biết nói gì hơn ngoài việc ấp a, ấp úng trước hàng quân, một trung đội 32 người toàn là những chiến sĩ già dặn đầy kinh nghiệm chiến trường. Mặt tái xanh, tim đập mạnh, vụng về bắt tay từng người, bằng tất cả những cố gắng tôi mới thốt được nên lời: “Ðược thượng cấp chỉ định về chỉ huy các Anh, tôi rất hãnh diện, nguyện cùng nhau sát cánh để hoàn thành được trách nhiệm mà thượng cấp giao phó.”

Công việc hàng ngày lúc nầy là có mặt đều đặn tại văn phòng đại đội, điểm danh và làm quen với các anh em binh sĩ; kiểm tra lại quân trang vũ khí; trang bị thêm đạn dược để sẵn sàng cho cuộc hành quân kế tiếp. Ban đêm thay phiên nhau đi phép, còn ban ngày thì phải thường xuyên có mặt ngày 2 bữa tại cơm nhà bàn. Ðây là dịp để các sĩ quan trong tiểu đoàn làm quen với nhau, mà cũng là hình thức kiểm soát rất tế nhị của vị Tiểu đoàn trưởng. Ở tuổi đời trên dưới 30 nhưng trông ông có vẻ đạo mạo, chững chạc, mực thước của một cấp chỉ huy, chứ không ồn ào hấp tấp, vui chơi vội vã như bạn tôi. Bên cạnh những tài hoa văn nghệ, với những ngón đờn “guitar” tuyệt diệu, ông còn là một người con hiếu thảo, một cấp chỉ huy tài ba, gan dạ trên chiến trường. Là Sĩ quan độc thân ông sống hết mình với thuộc cấp, xuất hiện rất đều đặn ở trại gia binh để theo sát đời sống khó khăn của binh sĩ, đến không ai hay và ra về không ai biết. Với bộ ria mép được tỉa gọn gàng, bình dân cùng chiếc “radio” ấp chiến lược mỗi lần lên xe jeep đi đâu đó, mãi mãi là hình ảnh thân thương quen thuộc đối với mỗi thuộc cấp trong tiểu đoàn.

Chỉ vài tuần lễ sau đó, tiểu đoàn có lệnh hành quân thay thế một đơn vị Nhảy Dù ở vùng Tân Thuận Ðông Long Kiển trong nhiệm vụ hành quân bảo vệ vòng đai phòng thủ Sàigòn. Thiếu úy Nguyễn Quang Minh đã bị tử thương trong cuộc chạm súng với một đại đội địch tại xóm Bánh Tét trong lúc còn đang tập sự chức vụ trung đội trưởng (OJT). Một viên đạn địch cũng đã chợt qua đỉnh đầu vị tiểu đoàn trưởng trong lúc ông ta đang chỉ huy điều động đơn vị, để lại một lỗ hổng khá lớn trên chiếc mũ sắt của ông. Với địa thế hiểm trở, nhiều kênh rạch chằng chịt và bị ta bao vây tứ bề, địch chỉ còn cách là cố tử thủ, chống trả mãnh liệt lại cuộc tấn công bất ngờ của ta. Còn ta cũng chẳng thể nào tiến chiến mục tiêu dễ dàng ở một vùng đầy kênh nước như vậy. Ðược yểm trợ hữu hiệu bởi các giang đoàn Hải quân và phi pháo, địch bị thiệt hại khá nặng nề, nằm chờ đêm tối để chém vè tẩu thoát. Trung đội tiền đồn của tôi đã diệt gọn một đám rút lui của địch khi chúng di chuyển bằng ghe vào tuyến.

Lục soát mục tiêu và kiểm soát trận địa vào sáng ngày hôm sau, địch đã để lại nhiều xác và vũ khí. Tiểu đoàn 2 TQLC đã thắng lớn trong trận nầy, bù lại ta có gần hơn chục mạng bị thương vong. Chiếc nón sắt đầy kỷ niệm của vị Tiểu đoàn trường đã được ông ta giữ mãi trong văn phòng tiểu đoàn cho đến lúc sau nầy. Lệnh bắt buộc tất cả các sĩ quan phải đội mũ sắt trong lúc hành quân cũng bắt đầu từ đây. Ðám tang của cố thiếu úy Nguyễn Quang Minh đã được tổ chức theo đúng “lễ nghi quân cách” tại nghĩa trang quân đội Gò Vấp. Anh không được vinh thăng cố Tr/úy mà chỉ được ân thưởng ADBT ngôi sao vàng. Ðây là một quyết định kỳ lạ làm đau lòng nhiều người tham dự lễ tang. Chính tay vị tư lệnh Lữ đoàn gắn chiếc huy chương nầy lên quan tài Anh trước khi hạ huyệt. Hình ảnh vợ Minh đang mang thai trong bộ tang phục màu trắng cùng lời đáp từ của ông cụ thân sinh Anh đã làm nhiều người rơi lệ. Trong phần cuối bài điếu văn ông đã nói:“Sự ra đi của Minh là một mất mát lớn lao với gia đình chúng tôi, nhưng sự mất mát ấy không đáng kể nếu so với đại cuộc, vì tổ quốc đã mất đi một chiến sĩ trẻ đầy lòng biệt huyết hết lòng phục vụ quê hương”.

Trung tuần tháng 3 năm 1966, tiểu đoàn lại có mặt tại chiến trường Bồng Sơn, Tam Quan cùng với chiến đoàn “A” TQLC. Lần nầy được tăng phái cho Sư đoàn 22 bộ binh trong một chiến địch hành quân hỗn hợp. Nhiều sư đoàn địch trong số có Sư đòan “Sao Vàng” Cộng sản Bắc Việt đã có mặt tại đây trong nhiều tháng liền với ý định tiến chiến quận lỵ Bồng Sơn hầu chận yết hầu trên đoạn đường tiếp tế từ Qui Nhơn ra Quãng Ngãi. Mục tiêu hành quân lần nầy là các vùng An Quý, Cự Tài, Trường Phước nằm về phía Tây QL1 khoảng 7-8 km đường chim bay. Tiểu đoàn tấn công với đội hình 2 đại đội hàng ngang. Vượt tuyến xuất phát từ tờ mờ sáng, di chuyển qua những dãy rừng dừa cao rậm rạp, khoảng 9 giờ 30 sáng cùng ngày khi gần đến từ mức xung phong thì đơn vị bắt đầu chạm phải toán tiền đồn của địch. Trung đội 4 của tôi có 2 binh sĩ bị thương. Lệnh Ðại đội cho dừng lại để cũng cố lại đội hình và tìm cách thanh toán địch. Trung đội 2 của Th/úy Tài bên phải đã phát hiện địch từ những ngọn dừa cao trước mặt, xa chừng 200m. Tổ đại liên 30 do Hạ sĩ Nguyễn Nữa xạ thủ được điều động từ trung đội vũ khí năng phiá sau tới, hạ gục 2 tên tại chỗ cùng 2 khẩu CKC có ống nhắm chính xác.

Từ xã An Quý trước mặt, địch bắt đầu khai hỏa mãnh liệt vào đoàn quân đang di chuyển của ta, phi cơ bao vùng cũng cho biết là địch rất đông đang trú ẩn nằm chờ ở các hầm hố kiên cố! ÐÐ2 chúng tôi đã bám được vào con suối cạn nằm chơ vơ giữa đồng trống, ta và địch chỉ cách nhau khoảng ba bốn trăm mét qua một khoảng ruộng lúa mênh mông. Ta bị bất lợi ở thế tấn công còn địch thì ưu điểm hơn về mặt phòng thủ. Ðó là lúc khoảng 12 giờ trưa cùng ngày. Pháo binh cơ hữu TQLC chưa đặt xong vị trí ở đồi 10, và vì vậy hỏa lực yểm trợ cho ta rất hạn chế! Nằm chịu trận ở địa thế thấp đã là mục tiêu tác xạ tốt nhất cho địch. Số binh sĩ thương vong mỗi lúc một nhiều hơn, riêng Trung đội tôi thì cũng mất gần 10 mạng từ sáng tới giờ. Lệnh tấn công chiếm mục tiêu bất cứ giá nào từ vị Tiểu đoàn trưởng là động cơ duy nhất hối thúc chúng tôi. Tôi bắt đầu đứng dậy hô xung phong, nhìn quanh các tiểu đội không ai nhúc nhích. Các anh hãy theo tôi “Xung phong, xung phong!” phóng qua khỏi mép suối bò lên qua phía bên kia, Hạ sĩ Nguyễn Văn On, Binh I Nguyễn Trung đã bị gục tại chỗ khi cố theo sát tôi phía sau. Hỏa lực yểm trợ chỉ nhờ mấy khẩu súng cối 81 ly từ Bộ chỉ huy tiểu đoàn. Cuối cùng rồi trung đội còn lại của tôi không đầy 20 chục mạng cũng dàn được hàng ngang trên các bờ đê thấp. Ở cạnh trái và phải còn các trung đội 1 của Th/u Vũ Ðoàn Dzoan và Trung đội 2 của Th/u Võ tấn Tài. Tiếp tục hô và chạy về phía trước, vừa tác xạ vừa hò hét “xung phong! Xung phong!” được ngụy trang liên tục nhờ các quả khói màu. Các khẩu M79 do hạ sĩ 1 Nhành và HS Nghêu tỏ ra rất công hiệu khi tiến gần sát mục tiêu. Mọi chuyện tải thương, tiếp đạn đều do trung sĩ 1 Nguyễn Văn Ðợi đảm trách, một trung đội phó gan dạ, nhanh nhẹn và sốt sắng đã giúp đỡ tôi trong mọi tình huống ngặt nghèo.

Bám sát được vị trí giao thông hào địch đầu tiên vào lúc 6 giờ chiều, một vài tên vừa mới chết còn máu tươi lênh láng bên khẩu thượng liên Tiệp Khắc mà chân vẫn còn xích chặt ở mấy gốc dừa. Lục soát và bung rộng mục tiêu, đại đội tìm thấy thêm nhiều xác chết và thu hơn 20 vũ khí đủ loại. Ở các cánh quân khác của Tiểu đoàn, số thương vong cũng không ít ỏi gì so với Ðại đội tôi. Trung úy Nguyễn Ngọc Ðiệp ÐÐT/ÐÐ3 bị tử thương, thiếu úy Hoàng Như Liêm thuộc đại đội 1 đã bị bắn gãy nát giò khi dũng mãnh hiên ngang điều động trung đội mình vào mục tiêu. Lần đầu tiên TÐ2 TQLC có số thương vong cao nhất trong một trận đánh, khoảng 40 người chết cùng 60 người khác bị thương. Nhưng bù lại, đơn vị đã giành được chiến thắng, một chiến thắng nhiều “vành khăn sô” nhất của tiểu đoàn.

Ðầu tháng 4 năm 1966 trong một cuộc gắn huy chương và thăng cấp tại hậu cứ tiểu đoàn, Trung tướng Lê Nguyên Khang, tư lệnh TQLC đề nghị là tiểu đoàn 2 nên có một biệt danh nào khác như tiểu đoàn 42 Biệt động quân “Cọp Ba đầu rằn” chẳng hạn. Và cái tên “Trâu Ðiên” đã ra đời trong lúc nầy vì những chiến tích trước đây tại Bồng Sơn, Tam Quan, được kẻ thù coi là “đánh giặc không sợ chết như con bà phước và húc như trâu khùng”. Chuẩn úy Nguyễn Văn Cầu trưởng ban 5 đã được lệnh thực hiện ngay huy hiệu nầy với tài họa sĩ của anh. Các tên Quái Ðiểu, Sói Biển, Kình Ngư, Hắc Long, Thần Ưng, Mảnh Hổ, Ó Biển cũng được lần lượt chào đời.

Ổn định vụ Phật Giáo Miền Trung Tháng 5, 1966 sau nhiều biến cố liên tiếp Phật giáo tại miền Trung, TQLC lại lên đường ra Ðà Nẵng. Bọn Cộng Sản lấy chiêu bài tôn giáo hầu tạo điều kiện để cướp chính quyền. Một số đơn vị nổi loạn chống lại chính phủ trong đó có tiểu đoàn 11/BÐQ. Tại các chùa chiền và trường học, các khẩu hiệu đả đảo “Thiệu Kỳ” và “chống Mỹ cứu nước” đã được vẽ đầy trên tường. Các tên thượng tọa Cộng Sản như hòa thượng Thích minh Chiếu, Thích Ðôn Hậu phóng thanh kêu gọi binh sĩ hãy rã ngũ theo thầy, thầy sẽ trả lương cho các con. Trước tình hình cực kỳ nghiêm trọng như vậy, nên Trung tá Nguyễn Thành Yên chiến đoàn trưởng chiến đoàn A TQLC phải kiêm nhiệm thêm chức “Quân trấn trưởng” Ðà Nẵng! Lệnh giới nghiêm 24/24 được ban hành bằng các cuộc hành quân dẹp biểu tình cùng truy lùng những tên chóp bu cầm đầu xách động, ta đã tóm được gần như trọn vẹn những phần tử gây rối nhờ sự tiếp sức của đồng bào. Chỉ trong vòng 3 tuần lễ thành phố nầy đã trở lại bình thường. Vì là cánh phó nên ÐÐ2 chúng tôi phải trấn giữ trên đỉnh đèo Hải Vân trong suốt cuộc hành quân nầy.

Trung đội 1 của Th/Úy Dzoan phải bảo vệ đài khí tượng tận đỉnh núi cao, trung đội 4 và 2 của tôi và Tài thường xuyên nằm tiền đồn lưu động. Không có một cuộc chạm súng nào đáng kể, trừ việc một quả đạn đại bác 155 ly từ tàu Hải Quân Mỹ bắn yểm trợ đã lọt ngay vào vị trí đóng quân của trung đội tôi vào lúc nửa đêm, không có tử thương nhưng cũng có vài quân nhân bị xây sát nhẹ. Theo đại uý “Hay” Tiểu đoàn phó thì “ông Anh” đã mở quán rượu (bắn quấy rối) nhằm ngay “số nhà” của ông Em, “sorry” ông em nghen!

Rời thành phố Ðà Nẵng, chiến đoàn A/ TQLC tiếp tục cuộc hành quân tiến ra Huế. Ðoàn xe GMC phải di chuyển thật chậm chạp và khó khăn lắm mới vượt qua được xóm làng chài ở khu phố Lăng Cô. Bọn CS trà trộn và áp lực dân chúng bằng mọi cách phải ngăn cản đoàn quân. Vô số bàn thờ và chướng ngại vật được đặt đầy đường dọc trên QL1. Họ đa số là trẻ em, đàn bà những người dân vô tội đã bị xúi giục quỳ giữa lộ, cùng nhau thắp nến để cầu an cho tên thượng tọa Thích Trí Quang, người đã có công gây xáo trộn hầu hết các vụ Phật giáo tại miền Nam để dâng nốt phần đất nầy cho Cộng Sản. Cuối cùng thì đoàn xe cũng đã đến Huế vào lúc trời nhá nhem tối, thành phố tiêu điều, xơ xác không một bóng người. Ðó đây trên bờ tường công viên, góc phố đầy các khẩu hiệu “Ðả đảo chánh phủ Thiệu Kỳ”. Ðổ quân ngay bên nầy cầu Trường Tiền, đơn vị hàng ngang tiến về phố Trần Hưng Ðạo. Một vài toán biểu tình tụ họp rải rác không đông lắm, nhưng đầy đủ biểu ngữ và toàn cờ Phật Giáo: “Giáo hội đang lâm nguy cần tiếp tay từ Quân đội”. Có vài binh sĩ bị ném đá khi thi hành nhiệm vụ bởi những tên quá khích trà trộn vào đám đông. Lệnh xử dụng khói cay được ban hành, sẵn sàng dùng biện pháp mạnh. Bị yếu thế, họ đành phải rút vào cố thủ bên trong thành nội. Qua đêm trên hè phố Hưng Ðạo, Lê Lợi, Thượng Tứ, Bạch Ðằng để rồi tiếp tục nhiệm vụ vào sáng ngày hôm sau. Nhiều cuộc hành quân liên tiếp trong các ngày kế tiếp, hơn 1 tuần lễ ta đã bắt được hầu hết các tên cầm đầu lẩn tránh tại các chùa chiền ở các vùng xa xôi hẻo lánh, bãi bỏ lệnh “Thiết Quân Luật”, thành phố Huế lại nhộn nhịp như ngày nào. Cá nhân tôi đã phải trình diện thiếu tá Tiểu đoàn trưởng vì quá nhiệt thành nên đã thiếu sót khi chỉ huy đơn vị chống biểu tình; thuộc cấp trong trung đội đã hành hung một số tên choai choai có hành động hung hãn trước các ống kính của các phóng viên ngoại quốc.

Hành Quân Lam Sơn 283 tại Quảng Trị

TQLC lại lên đường tham dự HQ Lam Sơn 283 truy kích địch tại mặt trận Ðông Bắc Quảng Trị. Nhiều Sư Ðoàn CSBV đã lợi dụng tình hình bất ổn tại hậu phương của ta, nên đã xua quân chiếm một số thôn hẻo lánh do các đơn vị “địa phương quân” trấn giữ. Tiểu đoàn 1 TQLC thanh toán địch tại các vùng từ Thôn Bích La Hậu về hướng Bắc. Còn TÐ2/ TQLC tại khu Gia Ðẳng. Cuộc chạm súng thật ác liệt đã xảy ra cùng ngày. Từ Gia Ðẳng I tiến chiến Gia Ðẳng II dọc theo hương lộ lộ 555, đơn vị đã phải trả một giá khá đắt. Nhiều binh sĩ bị thương vong khi quãng cách ta và địch quá gần... Thiếu úy Nguyễn Tuấn Kiệt, bạn cùng khóa K20, trung đội trưởng trung đội 2/ÐÐ3 đã bị tử thương vào lúc 6 giờ chiều khi điều động đơn vị mình xung phong vào vị trí địch. Ðại đội 2 của tôi cũng gần 10 mạng hy sinh. Như bao lần trước, lệnh tiến chiến mục tiêu bằng bất cứ giá nào cũng phải được thi hành.

Trung đoàn 808 VC đã phải chịu một tổn thất khá nặng khi các Ðại đội trong tiểu đoàn cùng đồng loạt đánh bật chúng ra khỏi vị trí lúc nửa đêm. Sáng ngày hôm sau trong lúc truy kích địch để bắt tay với tiểu đoàn bạn, ta đã phát giác nhiều xác địch bị bỏ lại trên đường chúng rút lui, cùng rất nhiều vũ khí, đặc biệt ta đã bắt sống hàng chục tù binh, khi chúng chui rúc lẩn trốn tại các bụi rậm dọc theo 2 bên bờ sông Vĩnh Ðịnh. Toàn bộ đơn vị được lệnh lui về Huế để ăn mừng chiến thắng. Thiếu tá tiểu đòan trưởng, cùng các đại đội trưởng đều được thăng cấp tại mặt trận trong dịp nầy. Riêng bản thân tôi được ân thưởng 1 anh dũng bội tinh với ngôi sao vàng.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 29-6-1966, tiểu đoàn 2/ TQLC rời vị trí đóng quân tại ngã ba An Hòa Huế để lên đường hướng về Ðông Hà dự cuộc Hành quân hỗn hợp với Ðồng Minh. Di chuyển trên 30 GMC theo thứ tự đội hình, ÐÐ1, ÐÐ3, ÐÐCH, ÐÐ2, và ÐÐ4. Ðoàn xe được bao vùng bằng 2 chiếc phi cơ quan sát L19 do các phi công Hoa Kỳ điều khiển, liên lạc qua hệ thống cố vấn trưởng đại úy Campbell. Khoảng 10 giờ 30 sáng cùng ngày, khi xe cuối cùng của ÐÐ4 vừa qua khỏi cầu Phò Trạch quận Phong Ðiền thì toàn bộ tiểu đoàn đã bị lọt trọn vẹn vào trận vận động độn thổ phục kích của địch. Lực lượng VC gồm có Tiểu đoàn chính quy 800 được tăng cường thêm đơn vị phòng không C15 gồm súng nặng 12 ly 7, đại hiện 50 có bánh xe, tăng cường thêm đơn vị C16 gồm súng cối 82 ly, SKZ 57 ly và 2 cây đại bác 75 ly. Ðơn vị nầy nhắm đánh xe tăng và yểm trợ cho quân xung phong khi tiến cũng như giải quyết chiến trường.

Quân số địch tham dự trận phục kích gần 700 người cộng thêm quân du kích địa phương. Từ địa thế cao tại các hầm lô cốt cũ của quân đội Pháp để lại, địch đã mai phục từ 2 giờ sáng đồng loạt tác xạ tới tấp vào đoàn xe di chuyển, nặng nhất là khu trung tuyến nơi Bộ chỉ huy tiểu đoàn, gần như tất cả xe thuộc đại đội chỉ huy đều bị bốc cháy ngay đợt khai hỏa đầu tiên. Vì là xe đầu của ÐÐ2 theo sát Ðại đội chỉ huy, nên tôi chứng kiến tận mắt những gì đã xảy ra thật chớp nhoáng và quá bất ngờ. Ðịch từ các hố cá nhân được đào sâu trong lòng đất, vùng dậy hò hét xung phong bằng kèn đồng, dao găm và mã tấu. Ta không kịp phản ứng lúc ban đầu nên chúng tha hồ ra tay sanh sát. Khi súng địch nổ bùng, các chiến sĩ Trâu Ðiên phản ứng tự nhiên bằng cách nhảy khỏi xe, tràn qua trái, băng qua đồng trống lối vài chục thuớc để chiếm lĩnh cao địa ở dãy đường rầy xe lửa. Nhưng địch đã nằm đầy nhóc tại phía này và quân ta đã xung phong vào chỗ chết. Trung úy Sơn-Xil cùng toàn bộ trung đội cảm tử quân của ông ta đã đền xong nợ nước. Xác ông ta nằm bên ven lộ cạnh thi hài vị Tiểu đoàn trưởng bầm dập bởi nhiều nhát đâm, nhát chém. Các sĩ quan khác như đại úy Hảo y sĩ trưởng Tiểu đoàn, Th/úy Thái Bông trưởng ban 3, Th/u Hưởng may mắn sống còn nhờ chạy lẩn khuất vào cái bụi rậm bên phải lộ sau khi đã bị thương nhẹ. Ðặc biệt cố vấn trưởng TÐ Ð/u Campbell bị địch cố tình bắt sống dẫn đi, nhưng ông ta đã thoát được nhờ sự can thiệp kịp thời các phi tuần võ trang. Người may mắn nhất trong trận đánh nầy là đại úy Trần Kim Ðệ ÐÐT/ÐÐCH. Riêng cái chết của Th/u Nguyễn Văn Cầu trưởng ban 5 tiểu đoàn vẫn còn là niềm ám ảnh mãi trong trí tôi cho đến lúc sau nầy. Anh bị thương nặng bởi nhiều vết thương khác nhau trên cơ thể, nhưng khi tôi đến tiếp cứu, anh vẫn còn tỉnh táo lạ thường. Anh nhờ tôi trao lại gia đình anh cái bóp đầy giấy tờ kỷ niệm khi đơn vị về hậu cứ, nói những lời từ biệt sau cùng. Anh tiếp tục lẩm bẩm đọc kinh trong khi miệng vẫn còn ngậm xâu chuỗi... và anh đã về với Chúa chỉ vài giây sau đó. Các đại đội tác chiến còn lại hầu như nguyên vẹn dưới sự điều động của TÐP tiếp tục bung rộng, truy kích..., một bộ phận còn lại tập trung vào việc tải thương. Dù đã bị thất thế, trong lúc VC mai phục ở vị trí do chính địch chọn lựa. Tuy vậy, ai gục thì đành chịu, còn lại tỉnh táo tựa lưng vào nhau tiếp tục chiến đấu. Còn địch thì chẳng còn kịp rút lui vào những dãy đồi trọc chập chùng bát ngát chạy dài tới vùng Cận Sơn. Chúng là những tấm bia di động tốt nhất cho các trực thăng võ trang, cùng đơn vị bạn TÐ5 Nhảy Dù đã được trực thăng vận cấp kỳ vào trận địa. Chắc rằng sự thiệt hại của ta khá nặng, nhưng chẳng thấm vào đâu so với sự tổn thất to lớn của địch.

Ðại tá Ngô quang Trưởng, tư lệnh SÐ1, đã có mặt tại chiến trường ngay vào trưa hôm đó. Ông đã phải nói lời thành thật rằng “Trong đời binh nghiệp của ông, kể cả hồi Pháp, chưa hề thấy trận phục kích nào lại biến thành trận phản kích tuyệt vời như trận đánh tại cây số 34 trên quốc lộ 1 ngày 29/6/1966 của tiểu đòan 2 TQLC”. Sau nầy được biết là có cán bộ Cộng Sản nằm vùng trong bộ chỉ huy hành quân Quân đoàn 1, nhằm tiêu diệt trọn ổ Tiểu đoàn 2 Trâu Ðiên để trả thù cho các vụ biến loạn Phật Giáo. Buổi chiều cùng ngày đoàn xe quay ngược trở về Huế với đầy đủ lực lượng hùng hậu còn lại của 4 đại đội tác chiến. Qua đêm tại vùng ngọai ô Phú Bài để rồi sáng ngày hôm sau đó, toàn bộ được không vận về hậu cứ Thủ Ðức. Vị Trung Tướng Tư Lệnh đã đến thăm nhiều lần, thăng cấp và ấn thưởng huy chương cho hầu hết các quân nhân hữu công, trong đó có Ðại úy Nguyễn Văn Hay, TÐP thăng lên Thiếu Tá, sau đó ông được lệnh thuyên chuyển về làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn công vụ. Ðại úy Ngô Văn Ðịnh TÐP/TÐ3 TQLC được chỉ định về đảm nhận chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ2, Ðại úy Nguyễn Xuân Phúc TÐP, các ÐÐT cũng có một vài sự thay đổi, trung uý Trần Văn Hợp ÐÐT/ÐÐ4, Trung úy Trần Văn Thuật ÐÐT/ÐÐ2.

Hơn hai tháng Tiểu đoàn được huấn luyện bổ túc đơn vị xong ở Trung tâm huấn luyện Quốc Gia Vạn Kiếp, Bà Rịa, đơn vị đã thực sự phục hồi và sẵn sàng tham dự các cuộc hành quân kế tiếp. Vào đầu năm 1967, trong cái lạnh cắt da và mưa bão triền miên mùa Ðông miền giới tuyến, TÐ2/ TQLC lại có mặt nơi núi đồi Cồn Thiên Quảng Trị cùng với chiến đoàn “A” TQLC. Các cuộc hành quân truy tìm và diệt địch qua các thôn Gio Linh, Cam Lộ, Vạn Kim, đơn vị đã chạm địch thường xuyên. Một lần khi tăng viện cho đại đội Hắc Báo Sư đoàn 1 Bộ Binh, TÐ2 TQLC đã đẩy lui nguyên một Trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt và giải vây được cho quân bạn cùng tịch thu được nhiều vũ khí. Từ căn cứ C1 qua C2 rồi C3 đã là những địa danh khổ cực và vô cùng quen thuộc đối với người lính thuộc Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên này. Chuẩn úy Nguyễn Văn Lơ cùng toàn bộ chỉ huy trung đội của Anh, đã bị tan xác trong đêm đông lạnh giá vì trái mìn claymore do một thuộc cấp sát hại vì tư thù cá nhân. Hàng ngàn quả pháo kích đủ loại từ các cứ địa địch bên kia bờ Bến Hải trút như mưa xuống mỗi ngày. Lực lượng chính quy CSBV luôn rình rập phục kích, bao vây, tấn công ta trong mọi sự di chuyển. Lệnh Tiểu đoàn, vào mỗi đêm phải có một Trung đội tiền đồn lưu động ngoài căn cứ và chỉ được phép trở về vào sáng ngày hôm sau dù có bị thiệt hại nặng nề khi chạm địch. Trung đội 4/ ÐÐ2 của tôi thoát khỏi một cuộc phục kích của địch khi đảm nhận nhiệm vụ này, địch nằm chờ sẵn và bị phát hiện quá sớm khi chúng tôi tiến đến vị trí đóng quân đêm. Các khẩu súng cối 81 ly cơ hữu tiểu đòan đã yểm trợ đúng lúc, gây thiệt hại khá nhiều cho địch trên đường chúng rút lui.

Copyright © 2008 - All rights reserved.