bao the gioi


GỞ RỐI 21-11-2010
Anh Tư


CÔNG DỤNG PHỤ CỦA ÐIỆN THOẠI DI ÐỘNG

Anh Tư thân mến:

Em nghe nói khi mình lỡ khoá cửa xe trong lúc chìa khoá còn nằm trong xe, mình có thể dùng cell phone để mở cửa xe được. Xin Anh Tư chỉ cho em, vì em hay quên chìa khoá trong xe và mỗi lần như vậy, gọi thợ khoá tới, tốn tới hơn một trăm đô, xót ruột lắm.

Ngoài chuyện giúp mở khoá xe, cell phone còn xài vào chuyện gì khác, xin Anh Tư chỉ cho em luôn. Em cảm ơn Anh Tư. (Người em hay quên, Dallas)

Người em hay quên thân mến: Em có thể dùng cell phone để mở khoá cửa xe, với các điều kiện sau đây:

- Xe của em có bộ phận cầm tay để bấm mở (keyless entry).

- Lúc đó phải có một người khác ở nhà, có cell phone và ở nhà có một bộ phận bấm mở khác cho cùng một chiếc xe.

Cách làm: em gọi về số cell của người nhà, trong lúc hai máy điện thoại còn đang liên lạc, em đứng sát vào cửa xe sao cho máy điện thoại cách cửa xe chừng vài tấc. Em nhờ người nhà cầm bộ phận bấm mở, kê lại gần điện thoại cầm tay, bấm nút mở khoá (unlock). Ðiện thoại ở nhà sẽ truyền tín hiệu mở khoá tới điện thoại của em, phát ra, và bộ phận cảm nhận trong xe sẽ bắt được, và cửa xe sẽ mở. Cách này ứng dụng hữu hiệu cho khoảng 85% các hiệu xe hiện có trên thị trường.

Ngoài công dụng mở khoá, điện thoại di động còn giúp chuyển số cấp cứu. Em bấm số 112 (thay vì 911). Dù máy điện thoại đang bị khoá (locked), máy vẫn chuyển tín hiệu 112 đi.

Khi điện thoại của em sắp hết pin, đừng rán nói cho đến khi máy hoàn mà hãy bấm số *3370# để dùng pin dự trữ. Máy điện thoại nào cũng có pin dự trữ, khoảng 50% tổng số điện lượng bình thường. Khi “sạc” lại, máy sẽ “sạc” luôn cả phần điện lượng dự trữ.

Ngoài ra, mỗi máy điện thoại có một số “căn cước” riêng. Em bấm *#06#, mã số sẽ hiện ra. Em chép lại, cất vào hồ sơ. Trong trường hợp lạc mất điện thoại, em gọi công ty điện thoại, cho họ mã số để “khoá” máy lại.

TAI NẠN KHI ÐỔ XĂNG

Anh Tư thân mến:

Ông xã em hồi còn sống thường dặn đi dặn lại hai điều quan trọng trong khi đổ xăng, một là không để cell phone trong xe, không mang theo người, và nhất là không cầm trên tay vì lỡ có người gọi tới, máy điện thoại có thể làm cho hơi xăng bốc cháy.

Ðiều thứ hai là trong lúc bơm, phái đứng đó mà bơm cho xong chứ không được gài bơm tự động rồi chui vào xe ngồi chờ cho ấm (mùa đông). Em không nhớ là làm như vậy có thể tràn xăng ra ngoài nguy hiểm hay vì lý dó nào khác. (Hiền Nguyễn, Houston)

Hiền Nguyễn thân mến:

Anh Tư nghĩ, không phải lý do tràn xăng (rất hiếm khi), mà vì trong xe là khu vực tĩnh điện. Em chui vào xe ngồi, tích tĩnh điện vào người, lát sau trở ra, chạm tay vào vòi xăng bằng kim khí, tĩnh điện có khi đủ mạnh để kích hoả, bắt vào hơi xăng và bốc cháy.

DU CA LÀ GÌ?

Anh Tư thân mến:

Hồi còn nhỏ, tôi nghe nói nhiều đến Du Ca trong phong trào thanh-niên sinh viên tranh đấu và cả thanh niên học-đường. Có lần tôi nghe một toán du ca hát, vui lắm. Ra hải ngoại, tôi thỉnh thoảng lại đọc bài báo thấy nói du ca là phản chiến, và nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, trưởng du ca là tay phản chiến gộc. Xin Anh Tư cho biết:

1) Du Ca là gì?
2) Du Ca có thân Cộng hay phản chiến không?
3) Nguyễn Ðức Quang có phản chiến không? Nhất là qua bài hát Việt-nam quê hương ngạo nghễ của anh ta có câu “tung xiềng vào mặt nhân gian”. Thử hỏi, ở miền Nam có xiềng nào? Hay anh ta muốn nói tới “xiềng xích của Mỹ Ngụy”? (Lê Văn Ðắng, Dallas) Ông Ðắng thân mến:

1) Du Ca là gì?

Anh Tư xin trích tài liệu huấn luyện của Du Ca. Nguyên chữ “du” đã có nghĩa là đi lang thang, “ca” là ca hát; nghĩa ở trên là nghĩa cổ điển nhất về du ca mà ta đã rút ra từ những kinh nghiệm sinh hoạt của cá toán du ca trong lịch sử. Một toán du ca dăm ba người biết đàn biết hát, hoặc nếu giỏi hơn, biết thơ biết kịch, biết làm trò, đi lang thang từ chỗ này qua chỗ khác, đem phần vốn liếng của mình trao cho thiên hạ, đó là Du Ca.

Ở bên Âu châu, các toán du ca phát triển mạnh từ thời Trung cổ, mà nhiều người gọi là ban hát dạo kiểu Trung cổ. Lúc bấy giờ chưa có chủ đích văn nghệ. Những toán đầu tiên gồm những toán làm trò (như kiểu bán thuốc dán bây giờ). Người ta vẽ mặt làm hề cho người xem phải phì cười, và thế là thành công.

Một số tu sĩ hồi bấy giờ đã dùng lối này để thành-lập những toán truyền đạo, đi lang hang trong dân chúng và chỉ hát thánh ca mà thôi. Công việc truyền đạo như vậy có một tác dụng mau lẹ, vì số người dân chịu ảnh hưởng của những bài thánh ca lần lần trở thành con chiên của Chúa.

Nhưng đến thế kỷ thứ XI, bắt đầu xuất hiện những toán du mạn thi (ngâm thơ, hát dạo) ở miền Bắc và sau đó, miền Nam nước Pháp, với tinh thần độc lập và những chủ đích rộng rãi hơn (troubadoures - trouvères). Nên nhớ rằng những toán du ca này không những không truyền đạo mà đôi khi lại còn đả kích tôn giáo thời bấy giờ. Kết quả của phong trào tấn công bằng văn nghệ này là phản ứng của người dân và người làm văn nghệ (la renaissance).

Như vậy du ca ở đay đã mang thêm một tính chất mới vô cùng quan trọng nhằm giáo dục tâm hồn nhiều hơn giải trí, và ta có thể định nghĩa tạm rằng: “Du Ca là một toán người chuyên đi ca hát từ chỗ này qua chỗ khác, nhằm phổ biến âm nhạc và giáo dục người xem.”

Ngày nay những toán văn nghệ hầu hết đều có một chút ít tinh thần du-ca, vì thỉnh thoảng vẫn đi lưu diễn đây đó. Ðiều này không thể tránh được vì nhu cầu phổ biến của văn nghệ. Những toán du ca chính cống vẫn còn tồn tại trên một số quốc gia dưới hình thức và kỹ thuật tân kỳ hơn. Có những toán danh tiếng lẫy lừng, chỉ có công việc giới thiệu kỹ thuật và nghệ thuật ca hát, như vài ban nổi tiếng của Hoa kỳ và của Âu châu. Ngay bên kia bức màn sắt, người Cộng sản cũng dùng du ca dưới danh nghĩa các toán văn công đi tuyên truyền cho họ. Lẽ dĩ nhiên toán này không còn hội đủ tính chất của du ca nữa, vì đã mất hẳn sự sáng tạo và chủ động. Sở dĩ họ có được các toán văn công là do kinh nghiệm của một số các nghệ sĩ đã từng sinh hoạt du ca trong thời kỳ chống Pháp.

Vai trò du ca thuần tuý ngày nay đang bị lu mờ dần vì nhu cầu kinh tế và sự bành trướng của tinh thần phóng nhiệm.

- Vì nhu cầu kinh tế, các toán du ca khi hát được vững vàng xuất sắc thì đều trở nên những toán biểu diễn kiếm sống.

- Vì tinh thần phóng nhiệm, những người ca hát cảm thấy mình không có trách nhiệm gì cả, và như vậy họ không cần tới du ca.

Trong dẫn chứng lịch sử trên, người du ca không phạm vào hai lỗi đó. Tuy nhiên, công việc chính của chúng ta không phải chỉ hiểu du ca, mà phải biết tính xem du ca với chúng ta, với xã hội cúng ta hiện tại, liệu có ích lợi gì không? Trả lời được mới là đầy đủ.

Phải biết rằng sinh hoạt tập thể ở xứ ta rất ít, và nếu có, thì cũng rời rạc. Ðiều đó chứng tỏ rằng người dân còn thiếu một ý thức chung. Người du ca nếu có, phải xuất hiện và làm công việc nặng nề đó.

Phải biết rằng trong các công việc chung làm mọi người còn cảm thấy khô khan, không mấy hứng thú. Người du ca phải tác động thế nào để cho công việc chung chạy mau hơn, người đóng góp thấy nhẹ nhõm, khoan khoái hơn.

Phải biết rằng chung ta chưa có một cái nhìn chung. Du Ca phải làm công việc khó khăn đó, hướng mọi người tiến dần đến một nhận thức chung, một suy nghĩ chín chắn và từ đó tacó quyền tin vào sức tiến của dân tộc.

Ta có thể kất luận rằng: Du Ca là làm công việc giấn thân tự nguyện, tự ý thức được công việc của mình làm. Người du ca là những người giản dị, luôn lôn tránh các món kềnh càng, luộm thuộm vốn không ích gì cho công việc của mình (là phổ biến tinh-thần). Những toán du ca nổi tiếng ở Hoa kỳ còn giữ được các tính chất đó: rất ít người, rất ít nhạc cụ và chỉ chuyên một vài loại nhạc, thường là dân ca. Qua những dữ kiện trên, Anh Tư viết lại định nghĩa về du-ca, như sau: “Du ca là một toán ít người, độc lập và chủ động, biết đàn hát, đi đó đây trình diễn để dùng văn nghệ để gây ảnh hưởng, truyền bá tư tưởng, tạo nên một ý thức chung, và tác động cho công việc chung mau chóng tiến tới một kết quả tốt đẹp hơn.” 2) Qua định nghĩa trên, vì tính độc lập và chủ-động, Du Ca không thuộc thành phần CS thân Cộng.

Qua kinh-nghiệm của Anh Tư, từng là trưởng huấn luyện của Du Ca vào các năm 1970-1972, Du Ca cũng không thuộc thành phần phản chiến kiểu Mỹ, nghĩa là kêu gọi chấm dứt chiến tranh tức khắc và vô điều kiện. Du Ca chủ trương cổ động cho một ý thức chung trong tinh thần dân tộc và dân chủ, để từ căn bản đó, xây dựng một nền hoà bình công chính dưới ánh sáng tự do.
3) Nguyễn Ðức Quang là người du ca chân-chính, không
thuộc thành phần phản chiến kiểu Mỹ, hay ngụy hoà kiểu MTGPMN. Bài hát Việt nam quê hương ngạo nghễ của anh có ý nghĩa sâu xa và từ ngữ bóng bẩy hơn những nghĩa đen thông thường. “Xiềng” trong câu “tung xiềng vào mặt nhân gian”, theo Anh Tư hiểu, phát khởi từ ý niệm ngàn năm Bắc thuộc (xiềng Tàu) và mấy mươi năm kháng Pháp (xiềng Tây). Cục Chính huấn của QL/VNCH đã duyệt-xét và chọn bài hát này để đưa vào các quân trường và dùng trong sinh hoạt Chiến tranh chính trị, hẳn đã có sự cân nhắc và gạn lọc kỹ lưỡng, xin ông yên tâm. TÚI KHÔN CỦA LOÀI QUẠ Anh Tư thân mến:

Tôi đọc báo thấy nói loài quạ khôn lắm, biết trộm cá mắc vào câu giăng, bằng cách đi thăm câu từ sáng sớm, trước khi mấy ông thợ câu ra tới. Quạ biết dùng mỏ ngậm dây câu kéo lên, rồi dùng chân giữ lại trước khi phăng tiếp, cho đến khi lôi được con cá lên mặt đất. Không biết chuyện này có thật không? (Hứa Lệ Nga, Austin)

Bà Lệ Nga thân mến:

Anh Tư tin đó là chuyện thật. Các nhà sinh vật học bên Anh đã trắc nghiệm trí khôn của loài quạ ở tân Thế giới (New Caledonia), bằng cách cung cấp cho hai con quạ trống và mái một ít thức ăn để trong ống nghiệm khá sâu, và hai đoạn dây kẽm ngắn, một hình móc câu, một hình thẳng, rồi để ý quan-sát.

Khi dùng mỏ không thể với tới thức ăn, con quạ mái đã dùng khúc kẽm hình móc câu để móc thức ăn lên.

Các nhà sinh vật học bèn “tịch-thu” khúc kẽm hình móc câu, con quạ mái liền chế tạo ra dụng cụ để móc mồi lên, bằng cách dùng chân và mỏ uốn cho khúc kẽm thẳng trở thành hình móc câu để dùng. Người lập lại cuộc trắc nghiệm này nhiều lần bằng cách “tịch-thu” khúc kẽm cong, giao cho nó một khúc kẽm thẳng khác, con quạ mái lại tiếp tục uốn khúc kẽm thành móc câu để lấy thức ăn.
Riêng con quạ trống, ỷ sức mạnh, không làm gì cả, chỉ chờ cho con mái lấy được thức ăn liền cướp đi.

Trước đây các nhà sinh vật học đã từng trông thấy loài vật biết sử dụng dụng cụ, như khỉ chimpanzee dùng đá để đập hạt dẻ, và dùng que làm cần câu, chọc vào tổ kiến hoặc tổ mối, móc ra ăn; nhưng đây là lần đầu tiên họ biết loài quạ chẳng những biết dùng dụng cụ mà còn biết chế tạo ra dụng cụ để dùng. Xa hơn nữa, họ còn biết loài vật chẳng khác gì loài người, biết cậy sức mạnh để bóc lột sức lao động của nhau.

Copyright © 2008 - All rights reserved.