bao the gioi


SƯ ĐOÀN 2 BỘ BINH VÀ CHIẾN TRƯỜNG NAM HẢI VÂN
Phạm Phong Dinh


(Kính tặng những người lính Sư Đoàn 2 Bộ Binh trên những chiến trường Nam Hải Vân, Quân Khu I VNCH)

Thành lập ngày 1.2.1955 tại Mỹ Tho, một tỉnh thuộc Miền Tây dưới danh hiệu Sư Đoàn Bộ Binh Số 32, Sư Đoàn 2 Bộ Binh chỉ có hai tháng chấn chỉnh đơn vị để nhận một nhiệm vụ khá nặng nề, là hành quân giải phóng và tiếp thu các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, trong lúc công việc lèo lái nước Việt Nam non trẻ của Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đang rất bề bộn, sau khi đất nước đã bị thực dân Pháp và Việt Minh chia đôi từ ngày 20.7.1954. Sự chia cắt đất nước đã được dự mưu và dàn xếp giữa Việt Minh cộng sản với quân Pháp, bất chấp nguyện vọng độc lập và thống nhất của dân tộc Việt Nam. Cộng sản và Pháp đặt người quốc gia trước sự đã rồi. Phe nhóm Hồ Chí MInh chiếm được nửa nước Việt Nam, chúng cần thời gian và hậu phương để hàn gắn những thiệt hại nặng của các lực lượng võ trang cộng sản trong cuộc chiến chín năm (1945 – 1954) với Pháp. Một cuộc chiến tốn hao nhiều xương máu một cách vô ích để chỉ lấy được một nửa nước.

Những quốc gia trong khối Liên Hiệp Pháp ngay trong những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 dần dần được Pháp trả lại độc lập mà không phải dấy động cuộc chiến tranh xương máu nào, như Maroc, Algérie, Tunisie, Côte d’Ivoire, v.v.. Pháp cần một nửa nước phía Nam để giữ thể diện và rút quân trong danh dự. Cả hai con chồn Hồ và cáo Pháp đều đã bị kiệt quệ tiềm lực quân sự, không thể mở thêm một cuộc chiến tranh quyết định, chúng đồng bắt tay chia đôi nước Việt Nam để theo đuổi những mục tiêu chiến lược lâu dài về sau. Cộng sản Hà Nội sẽ van xin khối cộng sản quốc tế, mà đứng đầu là Liên Sô và Trung Cộng giúp quân viện để chúng có thể nhanh chóng hồi phục và mở cuộc tấn công phần đất còn lại của Việt Nam. Pháp cần bảo toàn lực lượng rút ra khỏi Việt Nam để gửi đến những chiến trường khác vẫn còn có lợi cho chúng.

Nhìn thấu tận đáy tim gan của Hà Nội và Pháp, nên Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã lệnh cho phái đoàn Việt Nam quốc gia do Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ dẫn đầu tại hội nghị Geneva kiên quyết không đặt viết nhục nhã ký vào thứ hiệp định ô uế đó. Với hành động kiên cường của một quốc gia nhỏ bé giữa vòng vây của những cường quốc sừng sỏ đầy toan tính tham dự hội nghị lúc đó như : Hoa Kỳ, Liên Sô, Trung Cộng, Anh, Pháp, Ấn Độ, Ba Lan, người quốc gia Việt Nam và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam biết chắc sẽ phải đương đầu với một cuộc chiến tranh xâm lược vĩ đại của toàn khối cộng, mà đạo quân cộng sản Bắc Việt là đạo quân tiền phong của chúng. Người Việt Quốc Gia không còn một chọn lựa nào khác, ngoài việc gấp rút tổ chức quân lực để bảo vệ nền tự do và độc lập của đất nước. Các Liên Đoàn Lưu Động Việt Nam GM (Group Mobile) đều được biến cải thành những trung đoàn bộ binh hay nâng lên thành sư đoàn bộ binh. Sư Đoàn Bộ Binh Số 32 trên vùng lãnh thổ trách nhiệm đã dần thiết lập nền móng vững chắc của chính quyền quốc gia ở những khu vực vừa được giải phóng hay tiếp thu, tạo nếp sống thanh bình cho dân chúng địa phương được an cư lạc nghiệp, sau mười năm sống dưới gông cùm của cộng sản.

Vùng Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi từ lâu vẫn là căn cứ địa nhiều năm của cộng sản, nên ảnh hưởng của chúng vẫn còn lưu lại nặng nề trong những vùng nông thôn và vùng cận sơn. Sách lược khủng bố và tàn sát thẳng tay những thành phần chống đối trong vùng chúng chiếm đóng trước khi rút về Bắc đã làm cho dân chúng, nhất là ở vùng thôn quê hẻo lánh vô cùng sợ hãi. Tháng 9.1945, sau khi quân Việt Minh cướp chính quyền, bộ đội Việt Minh tràn vào tỉnh Quảng Ngãi, có những làng theo đạo Cao Đài đã bị quân cộng sản giết chết hết không chừa một người, kể cả những đứa trẻ vừa mới sinh ra. Với một đạo quân quỷ sặc sụa mùi máu tanh như vậy, chúng đi đến đâu, dân chúng sợ chết khiếp đến đó. Mùa hè năm 1972, sau khi tạm chiếm được quận Bồng Sơn của tỉnh Bình Định, những em gái từ mười hai, mười ba tuổi trở lên cho đến những thiếu phụ đã có chồng trên dưới bốn mươi tuổi đều bị cộng quân tập trung gọi là đi “ủng hộ” bộ đội. Mỗi tiểu đội cộng quân hãm hiếp một người đàn bà hay một em gái. Hành động ghê rợn đó đến quỷ thần cũng phải che mặt kinh sợ,ỉ mà chúng gọi là “nhân dân ủng hộ bộ đội”. Sau khi đã bị những con thú người cộng sản dày vò đến chết đi sống lại, những người phụ nữ quá đỗi thảm thương của chúng ta phải thành khẩn nói lời “cám ơn các đồng chí giải phóng” đã cho họ cơ hội phục vụ chúng. Hành động dâm dục này cũng được lập đi lập lại nhiều lần trên vùng cao nguyên rừng núi Trường Sơn lên những người phụ nữ Thượng thật thà chất phác.

Sau khi đất nước chia cắt, phụ nữ miền Bắc bị buộc phải lấy các thương binh cộng sản, mà đảng cộng gọi là nhiệm vụ cao cả. Các cô gái được cho đứng trước những cái bao bố tời kín mít, chỉ ló cái đầu của người bộ đội lên trên. Cô gái nào chọn cái bao nào thì cứ khênh cái bao ấy về nhà mà lấy làm chồng. Thật kinh hoàng và đau thương. Có nhiều cô gái chọn trúng cái bao mà, trời ơi, người thương binh bộ đội chỉ là một khúc thịt mất tay mất chân. Con đường duy nhất để giải thoát khỏi cuộc sống nhục nhã, là nhảy xuống giòng sông Hồng Hà nước cuồn cuộn chảy. Một cô gái “may mắn” lấy được một người bộ đội bị liệt cột sống, phải nằm như vậy cho đến suốt khoảng đời còn lại của anh. Người bộ đội tốt bụng đã viết cho cô gái một tấm giấy chứng nhận nhờ cô xuống Hải Phòng mua thuốc Tây cho anh. Trước khi chia tay, người bộ đội rơm rớm nước mắt nói với người vợ chưa bao giờ cưới của mình :”Cô đi Hải Phòng ráng tìm cách xuống tàu vào Nam. Tôi chúc cô được may mắn và đi vào Nam được bình an”. Vào Nam rồi, và giờ đây cô gái của năm 1954 ấy đang sống yên ấm hạnh phúc bên chồng con trên đất tự do, cô không bao giờ quên được đôi mắt thăm thẳm lúc vĩnh biệt của người bộ đội ấy.

Vẫn chưa hết, trước khi rút bộ đội người Nam ra Bắc trong chiến dịch gọi là tập kết, cộng sản đã tổ chức rất nhiều cuộc gán ghép binh lính của chúng với những cô gái miền Nam, Ngãi, Bình, Phú, gọi là “cấy” cơ sở để chờ đợi những người “chồng” trở về. Trong bối cảnh quê hương tiêu điều thê thiết và ngập tràn nước mắt như vậy, chiến Sư Đoàn Bộ Binh Số 32 thấy mình bị vây bọc bởi vùng đất đầy dẫy khổ đau, nghi kỵ và hận thù. Những người lính hiền lành và nhẫn nhục của chúng ta hành quân qua thôn xóm khát cháy khô họng, môi miệng nứt nẻ mà không thể xin được một chén nước uống. Người lính của chúng ta ủ dột, đau đớn bước đi như trong cơn mộng du, mỗi bước đi là mỗi tử thần rình rập chung quanh. Người lính Sư Đoàn 2 Bộ Binh vừa ngăn chống quân giặc ở phía trườc, mà còn phải dè chừng những lưỡi dao bén ngọt lén lút ở ngang hông và cả ở phía sau.

Ngày 26.10.1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được quốc dân tín nhiệm trong cương vị Tổng Thống trong một cuộc trưng cầu dân ý, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được cải danh thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (The Republic of Vietnam Armed Forces, gọi tắt là RVNAF), trong đó ba quân chủng chính là Lục Quân (The Army of the Republic of Vietnam, gọi tắt là ARVN), Không Quân (the Republic of Vietnam Air Force, gọi tắt là RVNAF) và Hải Quân (The Republic of Vietnam Navy, gọi tắt là RVNNAVY), để nói lên quyết tâm của Việt Nam Cộng Hòa thành lập một quân lực hùng mạnh để bảo vệ tổ quốc. Ngày 1.1.1956 trong chiều hướng cải tổ quân lực, Sư Đoàn Bộ Binh Số 32 được cải danh thành Sư Đoàn Dã Chiến Số 2, Bộ Tư Lệnh đóng tại Đà Nẵng. Ba năm sau, Sư Đoàn Dã Chiến Số 2 một lần nữa mang danh hiệu cuối cùng là Sư Đoàn 2 Bộ Binh, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và phát triển của sư đoàn. Ngày 10.9.1965, Sư Đoàn 2 Bộ Binh di chuyển về đặt bản doanh ở tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1971 Bộ Tư Lệnh sư đoàn một lần nữa dời về Căn Cứ Chu Lai tỉnh Quảng Tín cho đến những ngày giữa tháng 4.1975 thì theo cơn nổi trôi của vận nước về đến Bình Tuy, Phan Rang, cuối cùng là Vũng Tàu và chỉ còn 100 chiến binh cùng với vị chủ tướng Tư Lệnh của họ là Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt. Thành phần cấu tạo nên thành Sư Đoàn 2 Bộ Binh gồm:

Trung Đoàn 4 Bộ Binh: nguyên là Liên Đoàn Lưu Động Số 32, thành lập ngày 3.11.1953 tại Bắc phần với các Tiểu Đoàn 3, 10 và 20 Việt Nam BVN (Bataillon Vietnam).

Trung Đoàn 5 Bộ Binh: nguyên là Liên Đoàn 155, thành lập tại Khánh Hòa ngày 15.11.1954 với các Tiểu Đoàn 14, 18 và 26 Việt Nam.

Trung Đoàn 6 Bộ Binh: nguyên là Liên Đoàn Lưu Động Số 34, thành lập ngày 1.7.1953 ngoài miền Bắc, với các Tiểu Đoàn 2, 2 và 29 Việt Nam.

NHỮNG VỊ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN
Những vị Tư Lệnh sư đoàn lần lượt như sau:
- Đại Tá Tôn Thất Đính 01.01.1955
- Trung Tá Đặng Văn Sơn 22.11.1956
- Trung Tá Lê Quang Trọng 14.06.1957
- Đại Tá Dương Ngọc Lắm 23.08.1958
- Đại Tá Lâm Văn Phát 08.06.1961
- Đại Tá Trương Văn Chương 18.06.1963
- Đại Tá Tôn Thất Xứng 06.12.1963
- Chuẩn Tướng Ngô Dzu 30.01.1964
- Đại Tá Nguyễn Thanh Sằng 29.07.1964
- Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm 15.10.1964
- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn 10.01.1967
- Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp 22.01.1972
- Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt 27.08.1972 – 30.4.1975

CHIẾN THẮNG ĐỖ XÁ, QUẢNG NGÃI 1966

Trong mưu toan đổ quân xâm nhập ba tỉnh Kontum, Quảng Ngãi và Quảng Tín, Quân Khu 5 của cộng sản đã điều động các Trung Đoàn 230 và 240 Bắc Việt theo Đường Mòn Hồ Chí Minh từ Lào len lỏi qua vùng rừng núi trùng điệp Trường Sơn vào đất Việt Nam. Nhận được tin tình báo sự hiện diện của hai trung đoàn này, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 quyết định mở cuộc hành quân mang tên Quyết Thắng 20B. Đây là một trong những trận đánh lớn nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương Lần Thứ Hai (1960 – 1973), sau khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một bộ phận xung kích tiền phong của quân cộng sản Bắc Việt, còn gọi là quân Việt Cộng miền Nam được thành lập ngày 20.12. 1960.

Để thử sức và đo lường sức mạnh, cũng như hiệu năng chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Quân Khu 5 cộng sản chấp nhận giao tranh lớn với Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Những Tiểu Đoàn BVN của những năm 1950 giờ đây đã nhanh chóng trưởng thành và đã được trang bị khá mạnh để đủ sức đương đầu với quân chính quy cộng sản. Dưới sự chỉ huy của những sĩ quan và hạ sĩ quan dày dặn kinh nghiệm chiến trường từ thuở còn hành quân trên đất Bắc, các đơn vị của Sư Đoàn 2 Bộ Binh đã thắng lớn. Hai Trung Đoàn 230 và 240 bị thiệt hại đến 796 cán binh, 44 bị bắt sống, quân ta tịch thu 287 vũ khí các loại. Nhưng điểm mấu chốt quan trọng nhất của chiến thắng, là con số cấp chỉ huy địch bị tử trận tại mặt trận Đỗ Xá. Có đến 12 cán bộ cao cấp bị bắn hạ trong lúc giao tranh, bọn cán binh bỏ chạy tán loạn đến nỗi đã không kịp kéo xác các thủ trưởng của chúng đi. Trong số này có Đại Tá Hoàng Cừ, Sĩ Quan Thanh Tra Quân Khu 5,Đỗ Hữu Hạnh, Cục Trưởng Tham Mưu, Nguyễn Chuân, Cục Chính Trị. Chiến sĩ Sư Đoàn 2 Bộ Binh còn tịch thu được trong xác viên Đại Tá Hoàng Cừ một chính minh thư do Chính Ủy Liên Khu 5 cộng sản là Đại Tá Đặng Tính ký, cùng số tiền 100.000 đồng Việt Nam Cộng Hòa, 6.000 đồng tiền Bắc Việt. Có thể nói đây là trận đánh hiển hách nhất của Sư Đoàn 2 Bộ Binh từ ngày thành lập đến thời điểm đó.

Còn nhớ khoảng thời gian trước đây, những đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh đảm trách đã phá tan một kế hoạch nông mục của Trung Ương Cục Miền Nam, còn gọi là Cục R, cơ quan chỉ huy cao nhất của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tại Đỗ Xá sau một chiến dịch tấn công liên tiếp những vị trí địch trong mật khu này. Lợi dụng địa thế hiểm trở và rừng rậm, cộng quân đã thiết lập nhiều địa đạo chằng chịt, chúng rất chủ quan cho là quân ta khó thể đánh thủng nổi. Nhưng pháo binh và phi cơ của quân ta đã dội nát, hất tung những tảng đá lớn và làm sụp hệ thống địa đạo của địch, mà chúng luôn luôn tu bổ củng cố trong suốt năm 1966. Địa dạo bị phá sập, cộng quân thiết lập lần nữa, với mưu toan dùng chiến thuật độn thổ đột kích quân ta. Nhưng chiến thuật này đã nhanh chóng bị quân ta làm vô hiệu bằng chiến thuật liên tục di chuyển, không đóng quân cố định ở một vị trí nào. Các căn cứ hỏa lực của quân Nam không phải là những điểm phòng thủ thụ động, mà là những điểm phòng thủ cơ động. Tướng Thân Trọng Một, chỉ huy mặt trận Đỗ Xá đã bị cách chức vì đã thất bại trong chiến thuật địa đạo. Viên Đại Tá phụ tá Tướng Thân Trọng Một lên thay thế chưa kịp điều nghiên chiến trường, đã bị chiến thuật cơ động thần tốc của Sư Đoàn 2 Bộ Binh đánh xóa sổ trọn một tiểu đoàn.

Chiến thắng Đỗ Xá của Sư Đoàn 2 Bộ Binh đã làm xáo trộn hệ thống chỉ huy cộng sản thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Khu 5. Địa đạo năm lần bảy lượt bị phi và pháo phá sập, kế hoạch Nông Mục trồng trọt và chăn nuôi bám trụ lâu dài trong mật khu Đỗ Xá bị hủy diệt , tướng chỉ huy bị cách chức. Vùng đất Nam Ngãi Tín đầy bất trắc và khó khăn đã dần dần chịu khuất phục dưới bước chân của những người lính Sư Đoàn 2 Bộ Binh.

TRUNG ĐOÀN 6 BỘ BINH

Tiền thân của Trung Đoàn 6 Bộ Binh là Liên Đoàn Lưu Động Số 34, được thành lập từ ngày 1.7.1953 tại tỉnh Nam Định (Bắc phần). Ba tiểu đoàn hợp thành Trung Đoàn 6 Bộ Binh gồm có:
- Tiểu Đoàn 1/6, cải danh từ Tiểu Đoàn 2 Việt Nam.
- Tiểu Đoàn 2/6, cải danh từ Tiểu Đoàn 9 Việt Nam.
- Tiểu Đoàn 3/6, cải danh từ Tiểu Đoàn 59 Việt Nam.
- Đại Đội 6 Pháo Binh.

Cũng giống như hai Trung Đoàn 4 và 5 có nguồn gốc hợp thành từ các Tiểu Đoàn Việt Nam, Trung Đoàn 6 Bộ Binh là một đơn vị qui tụ những chiến sĩ ưu tú, có lòng yêu nước chân thành, một tinh thần quốc gia chống cộng vững mạnh. Trong thời gian còn hoạt động tại miền Bắc, Liên Đoàn Lưu Động Số 34 đã từng tham dự hầu hết những cuộc hành quân trên khắp các tỉnh và địa danh miền Trung Châu Bắc Việt như Ninh Bình, Bùi Chu, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Kiến An, Ninh Giang, Phúc Yên,... Sau Hiệp Định Geneve 1954, toàn bộ Liên Đoàn 34 được lệnh di chuyển vào Nam, tạm đóng tại Thanh Quýt, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, rồi được giao nhiệm vụ tiếp thu những tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Trong chiến dịch này, Liên Đoàn 34 đã tiếp nhận một số lớn cán binh cộng sản về hồi chánh và tịch thu một số lớn vũ khí, quân trang, quân dụng do quân cộng chôn giấu.

Ngày 1.1.1953, Liên Đoàn 34 Bộ Binh được chính thức đổi danh hiệu là Trung Đoàn 6 Bộ Binh trực thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh, di chuyển về đồn trú tại Phước Tường, Quảng Nam. Sau thời gian rèn luyện cán bộ, chỉnh đốn hàng ngũ, trang bị vũ khí mới, Trung Đoàn 6 Bộ Binh đã được tham dự nhiều cuộc hành quân thao dượt đại qui mô trong khuôn khổ tổ chức của Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Những năm tiếp theo đó, Trung Đoàn 6 Bộ Binh nhận trọng trách hoạt động hành quân miền biên giới Lào-Việt. Với nhiệm vụ nặng nề này, Trung Đoàn 6 tổ chức nhiều cuộc hành quân tảo thanh phá vỡ các mật khu, kho tàng và cơ sở hậu cần của địch trong những vùng Aró, Atép, Chalang, Trung Mang, Khâm Đức,... thuộc liên tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Pleiku. Cũng trong thời gian này, nhiều cuộc hành quân Thượng vận được phát động tại các quận Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam, quận Hậu Đức, Hiệp Đức thuộc tỉnh Quảng Tín, và hành quân bình định tại các quận Bình Sơn, Trà Bồng, Sơn Hà thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1967, chiến cuộc gia tăng, tình hình đòi hỏi nên Trung Đoàn được thành lập thêm Tiểu Đoàn 4/ 6, Đại Đội Trinh Sát 6 và Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ. Những vị Trung Đoàn Trưởng lần lượt của Trung Đoàn 6 Bộ Binh như sau:
- Trung Tá Vương Văn Đông.
- Đại Tá Đặng Đình Thụy.
- Đại Tá Đặng Văn Sơn.
- Đại Tá Lê Trung Tường.
- Trung Tá Nguyễn Trường Đăng.
- Đại Tá Nguyễn Ấm.
- Đại Tá Hoàng Đình Thọ.
- Đại Tá Nguyễn Văn Thành.
- Đại Tá Phạm Văn Nghìn.
- Trung Tá Nguyễn Thới Lai.

SƯ ĐOÀN 2 BỘ BINH TIẾP CƯ ĐỒNG BÀO TỴ NẠN CỘNG SẢN NĂM 1972

Trong lúc cuộc chiến tranh Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại những mặt trận Bắc Đèo Hải Vân ở Tây Nam Huế và Quảng Trị, thì mặt trận Nam Đèo Hải Vân tương đối lắng dịu, Sư Đoàn 2 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp vẫn kiểm soát vững vàng vùng đất trách nhiệm của mình. Những Trung Đoàn 4, 5, 6 Bộ Binh dàn quân giữ vững ba tỉnh Nam Quân Khu I là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín. Chẳng những thế mà Chuẩn Tướng Hiệp còn có thể gửi Trung Đoàn 4 thiện chiến của ông ra tăng phái cho những chiến trường đang đến lúc nóng đỏ nhất, đặt dưới quyền điều động của Sư Đoàn 1 Bộ Binh trong chiến dịch phản công tái chiếm các cao điểm chiến lược trục đường 547, rồi tăng phái cho Sư Đoàn Dù trong chiến dịch Lam Sơn 72 tái chiếm Quảng Trị. Khi Trung Đoàn 4 Bộ Binh làm xong nhiệm vụ, góp mặt trong những trang chiến sử Trị -Thiên chói lọi 1972, Trung Đoàn trở về Nam Hải Vân cùng Trung Đoàn 5 và 6 Bộ Binh tiếp tục đối đầu với những đối thủ truyền kiếp của mình là Sư Đoàn 2 Thép, Sư Đoàn 3 Sao Vàng và Sư Đoàn 711 cộng sản Bắc Việt. Những sư đoàn này hoạt động quấy phá trong vùng liên ranh cực Nam Quân Khu I và cực Bắc Quân Khu II, luôn mưu toan chiếm lấy vùng đất chiến lược cực quan trọng này, với ý đồ cắt Việt Nam Cộng Hòa làm hai phần, quân ta sẽ khó thể ứng cứu nhau. Từ đó những sư đoàn giặc từ vùng ba biên giới Việt – Miên - Lào sẽ hùng hổ tràn xuống từ Tây Nguyên để đánh những trận dứt điểm, hầu nuốt lấy toàn bộ nước Nam. Ý đồ này đã bị Sư Đoàn 2 Bộ Binh của Quân Đoàn I và Sư Đoàn 22 Bộ Binh thuộc Quân Đoàn II Việt Nam Cộng Hòa chận đứng và làm phá sản hoàn toàn.

Hai sư đoàn mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa giữ cứng ngắc vùng đất trách nhiệm của mình, làm Sư Đoàn 2, 3 và 711 cộng quân bị kẹt cứng, mọi ngã đường tiến xuống đồng bằng và duyên hải miền Trung của Mặt Trận B3, tức Mặt Trận Tây Nguyên bị đình đốn vô hạn định. Điều mà cấp chỉ huy Mặt Trận B3 có thể làm là lệnh cho ba Sư Đoàn 2, 3, 711 Bắc Việt, gọi chung là Mặt Trận 44, mở những trận đánh lớn tại Tiên Phước thuộc tỉnh Quảng Tín và Quế Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam từ đầu tháng 4.1972 và kéo dài dai dẵng đến tận tháng 7.1972, với hai ý đồ.

Thứ nhất, tạo mặt trận phụ Nam Hải Vân cầm chân Sư Đoàn 2 Bộ Binh và các Tiểu Đoàn Biệt Động Quân để quân ta không thể ra Bắc Hải Vân tăng viện.

Thứ hai, cộng quân hy vọng thu hút các đơn vị tổng trừ bị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân đang tham chiến trên chiến trường Bắc Hải Vân phải chia quân vào tiếp cứu mặt trận Nam Hải Vân, từ đó đại quân Quân Đoàn I khó có thể phản công tái chiếm Quảng Trị, mà đã lọt vào tay giặc từ ngày 2.5.1972.

Nhưng trên thực tế thì chúng ta thấy Trung Đoàn 4 Bộ Binh đã ra tham chiến mặt trận Trị Thiên, và chỉ trở về khi Mặt Trận 44 quyết tâm mở những trận đánh lớn vào Tiên Phước, Quế Sơn từ tháng 7.1972 . Với những công việc hết sức khó khăn, nặng nề và bề bộn như vậy, mà Sư Đoàn 2 Bộ Binh còn đảm nhận một công tác thật quan trọng và cấp bách từ phía Quân Đoàn I giao phó. Là tổ chức tiếp cư cho đồng bào tị nạn cộng sản. Hơn lúc nào, ở giữa những lúc dầu sôi lửa cháy như thế này, giữa những làn sóng đồng bào chiến nạn cuồn cuộn chảy về Nam Hải Vân, giữa những chết chóc ngập tràn xương máu và nước mắt của đồng bào ruột thịt đã vượt thoát đoạn đường gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng, chiến sĩ Sư Đoàn 2 Bộ Binh xót đau và gấp rút dựng lều trại đón nhận đồng bào.

Sau khi nhận chỉ thị của cấp trên, ngày 13.5.1972, Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh cùng bộ tham mưu sư đoàn quyết định thành lập Ủy Ban Cứu Trợ Đồng Bào Chiến Cuộc, để cấp thời tiếp nhận đồng bào khổ nạn từ miền địa đầu giới tuyến Quảng Trị và Thừa Thiên. Đại Tá Trần Hữu Tư, Phụ Tá Tiếp Vận Sư Đoàn, được chỉ định làm Chủ Tịch Ủy Ban, các vị Phó Chủ Tịch gồm có : Đại Tá Nguyễn Lương Khương, Chánh Thanh Tra Sư Đoàn, Trung Tá Hoàng Công Phát, Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị, Thư Ký là Thiếu Tá Ngô Quang Chương, Trưởng Phòng Chính Huấn. Dưới quyền Ủy Ban là 8 tiểu ban phụ trách những công tác như kiến thiết, tiếp nhận, tiếp vận tiện nghi, an ninh trật tự, y tế, thông tin tuyên truyền, v.v.. Những vị trưởng tiểu ban gồm những sĩ quan trong bộ tham mưu của Chuẩn Tướng Hiệp và các đơn vị trực thuộc.

Theo kế hoạch, Sư Đoàn 2 Bộ Binh đảm trách tiếp cư đồng bào, công tác cứu trợ vật dụng và hành chánh thì hoàn toàn do Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Tín gánh vác. Sư Đoàn 2 Bộ Binh có nhiệm vụ thiết lập những địa điểm an toàn trong phạm vi Căn Cứ Chu Lai để chuẩn bị tiếp cư. Vào những ngày khởi đầu kế hoạch, Sư Đoàn bắt tay vào việc lựa chọn những vị trí trong căn cứ khả dĩ thuận lợi về tiện nghị, về an ninh phòng thủ, v.v.. Với một căn cứ rộng lớn như Căn Cứ Chu Lai, sự lựa chọn địa điểm thiết kế trại tiếp cư đã không gây một trở ngại khó khăn nào. Nhưng điều thực sự đáng quan tâm nhất, chính là công việc tái thiết, chỉnh trang lại những căn nhà tiền chế trong doanh trại, mà hầu hết đã bị hư hại nặng do trận bão Hester trong tháng trước. Chuyện xếp đặt tiện nghi điện nước và vệ sinh cũng là những vấn đề khá khó khăn, với ngân khoản nhỏ bé của một sư đoàn một nước nghèo. Mặc dù bị đặt trước thời hạn cấp bách và hoàn cảnh thiếu thốn mọi mặt, Ủy Ban Cứu Trợ đã tận dụng mọi khả năng cơ hữu để hoàn thành các trại tạm cư trong thời gian kỷ lục. Hai khu vực được chỉ định thiết lập trong giai đoạn đầu là những khu doanh trại nằm sát bờ biển khá rộng rãi, thông thoáng với nhà cửa còn ở vào tình trạng khả dụng. Hai khu trại được đặt tên Trại Tạm Cư A và Trại Tạm Cư B. Tiểu Đoàn 20 Pháo Binh Sư Đoàn và Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 2 Bộ Binh nhận bảo trợ trực tiếp hai trại này.

Những ngày chuẩn bị kế tiếp, các thành phần trong Ủy Ban Cứu Trợ đã phối hợp với hai đơn vị bảo trợ nói trên xúc tiến công việc chỉnh trang, để có thể tiếp nhận đồng bào Trị Thiên từ ngày 15.5.1972. Các đơn vị Công Binh, Pháo Binh, các tân binh thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn đã được huy động tham gia công tác bất kể ngày đêm, với nỗ lực tu sửa càng sớm càng tốt những dãy nhà xiêu vẹo, mục nát. Tổng cộng hai Khu A và B có khoảng 200 căn nhà trệt lẫn lầu gỗ một tầng. Khả năng tiếp cư được dự trù lên đến 10 ngàn người. Ngoài ra Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn còn đào được 6 giếng nước để tắm giặt, không kể 5 citerne (bồn) chứa nước và hai bồn cao su đặt rải rác trong khu vực, tổng cộng có thể chứa đến 14 ngàn lít nước cung cấp hàng ngày. Đồng thời Sư Đoàn cũng tổ chức những Trạm Cứu Thương và những toán phát thuốc để chăm sóc sức khỏe chung cho người dân tị nạn.

Ngày 17.5.1972, chuyến tàu đầu tiên cặp bến Chu Lai đưa đến 944 đồng bào. Hầu hết là đồng bào thuộc quận Hải Lăng, Gio Linh, Cam Lộ ngoài Quảng Trị. Hàng trăm ngàn đồng bào bằng mọi cách đã chạy lánh nạn vào Huế. Chính quyền Huế theo kế hoạch từ trung ương đã di tản một số người đến các khu an toàn khác. Đồng bào được tập trung chờ đợi những chuyến hải vận hạm của Hải Quân Hoa Kỳ tại bến Tân Mỹ (Huế). Lên đường vào buổi chiều tà, những người đồng bào khốn khổ của chúng ta bềnh bồng qua một đêm trên biển cả trước khi bước chân lên Chu Lai, một vùng đất mới thoáng nghe tên lần đầu vào sáng hôm sau. Chiến sĩ Sư Đoàn 2 cảm xúc rưng rưng nhìn những khuôn mặt đen nhẻm nắng gió và hốc hác của những cụ già, những em nhỏ gầy guộc ốm đói, những đôi mắt thất thần ngơ ngác vì cơn ác mộng tử thần trên Đại Lộ Kinh Hoàng của những bà mẹ vừa mới mất con. Ôi, thật quá đỗi đớn đau cơn khổ nạn của người dân vùng hỏa tuyến. Những người dân tị nạn trong những lần tâm sự với chiến sĩ , thường bộc lộ những nỗi đắng cay, vất vả. Nhưng sau tất cả những gian nan mà đồng bào phải gồng gánh trên những đôi vai co rút thật tội nghiệp đó, người dân chiến nạn cảm thấy mình như đã được hồi sinh trong vòng tay bảo vệ của người chiến sĩ Cộng Hòa. Đồng bào chấp nhận lìa bỏ mảnh đất gắn bó thân thiết một đời người, hy sinh hết, để nói lên ý chí, quyết tâm không sống dưới bạo lực của giặc. Đồng bào chọn đi về miền đất lành của những con người yêu chuộng tự do và hiền hòa, dù có phải trả giá bằng cái chết. Tự Do Hay Là Chết.
(còn tiếp)

Copyright © 2008 - All rights reserved.