bao the gioi


Giáo sư Bửu Cầm đã ra đi



Giáo sư Bửu Cầm đã ra đi

Giáo sư Bửu Cầm, nhà nghiên cứu Hán Nôm hàng đầu, vị thầy của nhiều thế hệ trí thức Việt Nam đã ra đi sau thời gian dài bệnh nặng.

Ông là cựu giáo sư trường Quốc học Huế thập niên 1950, cựu giáo sư thực thụ các Viện Đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Vạn Hạnh các thập niên 1960, 1970, thành viên Ủy ban Thẩm định giá trị văn hóa Đông - Tây của UNESCO.

Giáo sư Bửu Cầm tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Cầm, pháp danh Tâm Châu, sinh ngày 14.8.1920 tại Vỹ Dạ - Huế, là con đầu lòng của thi sĩ Ưng Oanh và nữ sĩ Trịnh Thị Tố, cháu gọi Tuy Lý Vương bằng cố.

Thuở nhỏ vì sức khỏe kém, nên ông học chủ yếu với gia đình và tự học. Năm 12 tuổi, ông đã viết văn làm thơ, năm ngoài 20 tuổi đã chủ biên Tinh hoa văn tập và tập san Gió lên xuất bản tại Huế. Vì những hoạt động văn hóa nên ông được mời giảng dạy môn Việt văn tại trường Quốc học Huế.

Năm 1956, ông chuyển vào Sài Gòn, phụ trách Phòng Sưu tầm và khảo cứu Viện Khảo cổ. Năm 1958, ông được mời giảng dạy môn Hán Nôm và các môn Lịch sử Việt Nam, Ngữ học Việt Nam, Triết học Đông phương tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông được phong Giáo sư diễn giảng năm 1969, được thăng Giáo sư thực thụ Viện Đại học Sài Gòn năm 1972.

Giáo sư đã có trên 20 công trình nghiên cứu được xuất bản hoặc còn ở dạng bản thảo.

Sau một thời gian lâm bệnh, giáo sư đã từ trần lúc 18 giờ 30 ngày 19.6.2010 (nhằm ngày 8.5 Canh Dần), hưởng thọ 91 tuổi. Linh cữu quàn tại tư gia, số 71/13/16-18 Nguyễn Bặc (cạnh chùa Hải Quang - gần chợ Phạm Văn Hai), P.3, Q.Tân Bình, TP.HCM. Động quan lúc 6 giờ ngày 23.6. Hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.

oOo

Dưới đây là bài phỏng vấn của Thạc sĩ Lê Quang Trường, một năm trước khi giáo sư vĩnh viễn ra đi.

www.Tapchithegioimoi.com thành kính phần ưu cùng anh chị
Nguyễn Phúc Vĩnh Tuấn và toàn thể tang quyến. Nguyện cầu vong linh Thầy sớm an vui nơi cửa Phật. Gia đình Nam Giao, TSL, Arlington, Texas

oOo

Chúng tôi đến nhà giáo sư Bửu Cầm trong dịp cuối năm Mậu tý chuẩn bị bước sang năm Kỷ sửu. Để gặp được thầy là cả một chặng đường gian nan. Từ lúc thầy về hưu sớm đến nay, thầy bế môn tạ khách, nên hầu như chẳng ai có thể đến gặp thầy, ngoại trừ những học trò và những người thân thuộc. Thầy Nguyễn Khuê, trước đây là học trò của thầy, lại là đồng nghiệp của thầy trong ban Việt Hán của trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, có lẽ là người năng lui tới thăm hỏi và là một trong những số ít người được thầy tiếp đón. Vì vậy, muốn gặp được giáo sư để viết bài này, tôi cũng khá chật vật. May nhờ có sự giới thiệu của thầy Nguyễn Khuê, và thầy còn chịu khó đi cùng tôi đến giáo sư Bửu Cầm, tôi mới có dịp diện kiến giáo sư Bửu Cầm.

Năm nay thầy đã 90 tuổi, tuy có phần mệt mỏi, nhưng nhìn thầy và qua cách thầy nói chuyện, tôi thấy thầy vẫn còn tinh anh minh mẫn lắm. Thầy còn xin lỗi chúng tôi vì không thể tiếp ở ngoài phòng khách được, mà phải ở phòng ngủ. Nhưng chỉ nói chuyện được một lát, thì thầy xin được nằm và một lát thì thiếp đi.
Biết rằng sẽ gặp khó khăn trong việc phỏng vấn viết bài về thầy, chúng tôi đành viết khái thuật thông qua những tài liệu mà gia đình cung cấp cùng những ký ức, những nhận định về thầy qua các học trò của thầy và qua những người thân, đặc biệt là những người thân cận với thầy như thầy Nguyễn Khuê, và gia đình.

Một học giả uyên bác

Ai đã từng là học trò của GS Bửu Cầm đều có chung một cảm nhận rằng giáo sư là một học giả, một vị giáo sư uyên bác khả kính. Còn với ông, ông cảm nghĩ gì về giáo sư Bửu Cầm?

Ông Nguyễn Khuê:

“Thầy được học trò và giới nghiên cứu kính trọng về hai phương diện: sự uyên bác và tác phong mô phạm. Thầy không phải là một trí thức khoa bảng, mà là một học giả. Kiến thức uyên bác của Thầy là kết quả của sự tự học. Năm ngoài 20 tuổi, Thầy đã là chủ biên của Tinh hoa văn tập và tập san Gió lên xuất bản tại Huế. Ở tuổi 25, Thầy đã biên soạn cuốn Tống Nho – Triết học khảo luận (Trần Trọng Kim đề tựa năm 1945).

Ông có nhận xét gì về công trình Tống Nho của giáo sư?

Đây là một công trình biên khảo rất có giá trị về mặt tư tưởng học thuật, với tư liệu tham khảo phong phú gồm 2 sách quốc văn, 63 sách Hán văn và 13 sách Pháp văn, đòi hỏi soạn giả phải có học vấn uyên thâm về Nho học nói chung và Tống Nho nói riêng; một công việc không phải dễ dàng, nếu không nói là khó, với bất cứ nhà Hán học nào. Mặt khác, con số vỏn vẹn 2 sách quốc văn tham khảo còn cho thấy thời ấy (và cả bây giờ) Tống Nho là cuốn sách hiếm hoi trong tủ sách tiếng Việt cùng loại.

Cũng nên nói thêm Trần Trọng Kim là một học giả tên tuổi, có nhiều tác phẩm biên khảo rất có giá trị, trong số đó có cuốn Nho giáo. Theo sự đọc sách hạn hẹp của tôi, tôi không thấy học giả họ Trần đề tựa cho một cuốn sách nào khác. Ông đã viết lời tựa cho cuốn Tống Nho của một thanh niên 25 tuổi, có nghĩa là ông nhận thấy cuốn sách ấy có giá trị.

Ngoài công trình ấy, giáo sư còn có những công trình nào đáng chú ý?

Ông Nguyễn Khuê:

Sau Tống Nho, Thầy tiếp tục biên soạn thêm gần 20 công trình gồm nhiều thể loại như biên khảo (Việt ngữ chính tả tự vựng, Tìm hiểu Kinh Dịch, Quốc hiệu nước ta từ An Nam đến Đại Nam, Thư mục về Nguyễn Du…), dịch thuật (Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Hồng Đức bản đồ, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam hội điển), phiên âm và chú giải các tác phẩm chữ Nôm (Nam cầm khúc của Tuy Lý Vương, Hoài cổ ngâm của Tương An Quận vương, Trăm thương của Tương An Quận vương). Ngoài ra, Thầy còn có nhiều bài viết đăng trên Văn hóa nguyệt san, Khảo cổ tập san, Đồng Nai văn tập.

Ông Nguyễn Tri Tài:

Những công trình của giáo sư Bửu Cầm, không những có giá trị về mặt học thuật trong thời ấy, mà còn có giá trị về mặt lịch sử. Giáo sư trước đây còn là chuyên viên của viện Khảo cổ, nên những công trình chuyên khảo của giáo sư rất tỉ mỉ và công phu như những người làm công tác khảo cổ học vậy.

Vị giáo sư mẫu mực khả kính
Xin ông cho biết một chút về công tác giảng dạy của giáo sư.

Ông Nguyễn Khuê:

Trong khoảng 1950-1953, Thầy dạy trường Quốc học Huế. Từ 1958, Thầy được mời giảng các môn Lịch sử Việt Nam, Ngữ học Việt Nam, Văn chương Việt Hán, Văn chương Trung Hoa, Triết học Đông phương tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1970, Thầy được cử giữ chức Trưởng ban Hán văn thay cho GS. Nghiêm Toản xin nghỉ. Do những cống hiến lớn lao của Thầy về nghiên cứu cũng như giảng dạy, năm 1969 Thầy được phong Giáo sư diễn giảng, năm 1972 Thầy được thăng Giáo sư đại học thực thụ. Thầy đã bảo trợ cho nhiều đề tài cao học và tiến sĩ, làm chủ khảo hoặc giám khảo trong nhiều hội đồng chấm các tiểu luận cao học về văn chương quốc âm, văn chương Việt Hán, văn chương Trung Hoa, Sử học, Triết học Đông phương. Năm 1972, trường Đại học Văn khoa Sài Gòn bắt đầu mở tiến sĩ, Thầy lại giảng dạy và làm chủ khảo kỳ thi tốt nghiệp năm thứ nhất tiến sĩ chuyên khoa Hán văn. Thầy cũng được mời dự hội nghị quốc tế về Trung Quốc học ở Đài Loan, được cử tham gia Phái đoàn Giao dịch với Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Đông Nam Á tại Nhật Bản và là thành viên của Ủy ban Hỗ tương Thẩm định Giá trị Văn hóa Đông Tây của UNESCO.

Thời tôi học cử nhân giáo khoa Việt Hán, ban Hán văn chỉ có hai giáo sư cơ hữu là GS. Nghiêm Toản (Trưởng ban) và Thầy, các vị khác như Thẩm Quỳnh, Bùi Lương… đều là giảng viên thỉnh giảng. Các thầy hoặc xuất thân Hán học, hoặc xuất thân Tây học kiêm Hán học, nên vị nào cũng có tác phong mô phạm.

Dường như ông được giáo sư bảo trợ làm luận văn cao học và luận án tiến sĩ?

Ông Nguyễn Khuê:

“Thời bấy giờ, ghi danh học cao học và tiến sĩ không phải qua kỳ thi, chỉ cần hội đủ điều kiện qui định cho mỗi bậc học và phải được một giáo sư nhận bảo trợ. Vì thế, cũng như GS. Nghiêm Toản, Thầy rất chặt chẽ trong việc nhận bảo trợ đề tài cao học và tiến sĩ. Trong thời gian học cử nhân, tôi chưa một lần đến nhà Thầy (đối với các thầy khác cũng thế). Nhưng từ khi làm cao học, rồi tiến sĩ với sự bảo trợ của Thầy, thì tôi thường đến gặp Thầy để hỏi ý kiến, để xin Thầy đọc những chương, những phần trong luận án mà tôi đã viết xong. Lần nào Thầy cũng vui vẻ tiếp, ân cần hướng dẫn, góp thêm ý kiến, sửa chữa những chỗ sai lầm trong bản thảo (Thầy đọc kỹ và trả lại đúng hẹn), chỉ cho những sách liên quan đến đề tài cần phải đọc thêm, thậm chí còn cho mượn những tài liệu tham khảo mà tôi không tìm được ở các thư viện. Bởi học thức uyên bác, sự tận tâm giảng dạy và lòng thương yêu sinh viên mà Thầy được nhiều thế hệ học trò kính mến.”

Được biết thầy Nguyễn Tri Tài cũng là người làm luận văn cao học dưới sự bảo trợ của giáo sư Bửu Cầm, ông có nhận xét gì về giáo sư?

Ông Nguyễn Tri Tài:

Thật ra, tôi không có dịp gần gũi giáo sư nhiều như ông Nguyễn Khuê, vì tôi ở khác ban. Tôi thì ở ban Triết học Đông phương lúc bấy giờ do giáo sư Nguyễn Đăng Thục làm trưởng ban, sau đó là giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, còn giáo sư Bửu Cầm ở ban Hán văn, ông Nguyễn Khuê cũng ở trong ban này nên hiểu rõ về giáo sư hơn tôi. Nhưng lúc bấy giờ, vì giáo sư Nguyễn Đăng Thục thôi giữ chức trưởng ban nên tôi được giáo sư Thục giới thiệu sang giáo sư Bửu Cầm, nhờ giáo sư bảo trợ cho đề tài luận văn cao học Triết học Mạnh Tử của tôi. Nhưng qua trao đổi, giáo sư đề nghị tôi đổi tên là Đạo đức học Mạnh Tử với hai mảng đạo và đức. Tôi nghĩ đó là một ý kiến hay và thâm thuý. Có người ví chuyện giáo sư Bửu Cầm khi làm chuyên viên ở viện Khảo cổ như Lão Tử làm người coi sách ở thư viện nhà Chu, từ đó cho thấy kiến thức uyên thâm và lối sống thanh bạch của giáo sư.

Một nhà giáo thanh bạch

Là dòng dõi hoàng tộc, nhưng giáo sư Bửu Cầm sống một cuộc sống hết sức thanh cao và giản dị. Căn nhà giáo sư ở hiện nay nằm cuối một con hẻm nhỏ gần chợ Phạm Văn Hai, bên cạnh ngôi chùa Hải Quang yên tĩnh, cánh cửa sắt mở ra dẫn vào một cái hiên vừa đủ để vài chậu cây kiểng. Cuộc sống của một giáo sư, một học giả lúc được hiển vinh nhất nhưng vẫn thanh bạch như một nhà Nho khi lui về ở ẩn, đó là cuộc sống thường nhật của giáo sư Bửu Cầm, người tận tuỵ với nghiên cứu, giảng dạy, nhiệt tình với mọi học trò.

Xin ông cho biết, cuộc sống của GS Bửu Cầm trong cảm nhận của ông, với tư cách là học trò thân thuộc nhất của GS.

“Từ khi tôi bắt đầu học với Thầy cho đến năm 1973, nếu tôi nhớ không lầm, Thầy và gia đình sống trong một căn nhà thuê nhỏ hẹp trong một con hẻm cụt cũng nhỏ hẹp trên đường Đặng Dung ở vùng Tân Định quận l. Những ngày có giờ dạy, mưa cũng như nắng, Thầy đi bộ từ nhà đến trường, rồi lại đi bộ từ trường về nhà. Lúc nào tôi cũng thấy Thầy mặc áo sơ-mi trắng, thắt cà-vạt, chỉ khi tham gia hội đồng chấm bảo vệ cao học thì Thầy mới mặc com-lê. Nếu chúng ta biết rằng có một giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn khác, cũng ở đường Đặng Dung, cách nhà Thầy không xa, đi đến trường trong một chiếc xe hơi sang trọng, thì mới thấy được sự thanh bạch của Thầy.

Năm 1973, Thầy mua được một căn nhà ở đường Mai Ngọc Khuê (nay là đường Nguyễn Thanh Tuyền) quận Tân Bình, rộng rãi hơn căn nhà ở Tân Định, nhưng lại quá xa trường. Mỗi khi có giờ dạy, Thầy không thể đi bộ đến trường như trước kia, mà phải nhờ các anh con Thầy đưa đón bằng xe gắn máy hoặc đi xe ôm. Tuy nhiên, Thầy thích căn nhà này vì có một khoảnh sân nhỏ vừa đủ cho Thầy trồng một khóm trúc, để một chậu mai và treo vài chậu phong lan.”

Xem cuốn “Tâm trạng Tương An Quận vương qua thi ca của ông” của ông, tôi thấy giáo sư Bửu Cầm đề tựa, phía cuối bài có ghi “Viết tại Hiên Tam-bất ở Tân-định”, hiên “Tam bất” chắc là nơi ở của giáo sư, nhưng “Tam bất” có nghĩa là gì ạ?

“Đúng vậy, Thầy gọi nơi đọc sách và trứ tác của Thầy ở Tân Định là “hiên Tam bất” và thường ghi bên dưới các bài tựa là “Viết tại Hiên Tam bất…” Như khi đề tựa cuốn Tâm trạng Tương An Quận vương qua thi ca của ông, Thầy ghi (tôi giữ đúng cách viết hoa và gạch nối của Thầy):

Viết tại Hiên Tam-bất ở Tân-định,
Sài-thành, tiết Trung-thu năm Canh-tuất (1970)
“Thầy có hiệu là Tam bất cư sĩ 三不居士.“Tam bất” là nói rút gọn câu “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Sự giàu sang không thể làm cho trở nên dâm dật, sự nghèo hèn không thể làm thay đổi tiết tháo, uy quyền vũ lực không thể khuất phục.) Qua đó, có thể thấy cách lập đức của Thầy”.

Dã phương trai, là nơi giáo sư ở hiện nay, dường như cái tên ấy cũng có ngụ ý cuộc sống ẩn dật, thanh tao?

Ông Nguyễn Khuê:

Năm 2000, Thầy lại dời chỗ ở đến cuối một con hẻm cụt cạnh chùa Hải Quang, gần chợ Phạm Văn Hai quận Tân Bình, cách căn nhà cũ ở đường Mai Ngọc Khuê không xa. Thầy đặt tên căn nhà mới này là Dã Phương Trai. Cuộc sống vãn niên của Thầy được thi vị hóa qua bài thơ Thầy gửi tặng tôi:

DÃ PHƯƠNG TRAI

Nhà tôi chỉ có sách và hoa,
Một chiếc đàn tranh, một ấm trà.
Khóm trúc, cành mai đùa gió sớm;
Hiên trăng, gác mộng đón hương xa.
Ong vờn giậu cúc tình chan chứa,
Bướm lượn thềm lan ý đậm đà.
Trước cửa chim trời cao giọng hót,
Ngoài song tiếng dế cũng ngâm nga.

Nếu ai từng đến thăm Thầy ở Dã Phương Trai, vừa bước vào cái sân nhỏ (còn nhỏ hơn cái sân ở căn nhà đường Mai Ngọc Khuê) thì thấy có đủ mai, lan, cúc, trúc. Trong nhà treo một bức hoành phi chạm ba chữ Hán 野芳齋 (Dã Phương Trai) thếp nhũ kim, một câu đối khảm xa-cừ, vài bức tranh Tàu, một cây đàn tranh; gần chỗ tiếp khách trưng bày mấy món đồ cổ, bên trong là vài tủ sách lớn. Với phong thái nhàn nhã tự tại, dường như Thầy không còn bận lòng về việc đời. Nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi. Qua những lần đàm đạo với Thầy cũng như qua bài thơ làm ở tuổi 80, mà theo Thầy nói thì sau bài này Thầy gác bút, người ta thấy Thầy vẫn còn nhiều trăn trở:

MỪNG THỌ TÁM MƯƠI TUỔI

Con cháu đông vui họp một nhà,
Tám mươi tuổi thọ hãy mừng ta.
Thương người bốn biển, trời không phụ;
Mê sách ngàn pho, thánh chẳng xa.
Mong thấy thiên đường thay địa ngục,
Muốn nghe nhân nghĩa định sơn hà.
Hoàn thành ước nguyện, lòng thanh thản,
Thượng uyển phương quỳnh chớm nở hoa.

Có thể nói con người của Thầy là sự kết hợp hài hòa giữa khí tiết “tam bất” của một nhà nho quân tử và cốt cách phong lưu của một người thuộc dòng dõi hoàng tộc.

Phong cách nghiên cứu khoa học cẩn trọng, tỉ mỉ với mảng đề tài rộng
Kết quả của những tháng ngày làm chuyên viên ở Viện Khảo cổ là những bài viết khảo về văn hoá Trung Quốc rất có giá trị. Có lẽ ông là một trong những người khảo về đồ gốm Trung Quốc khá sớm trong giới nghiên cứu Việt Nam. Trong bài viết của mình, ông đã giới thiệu về đồ sứ đời Tống trên các phương diện sắc thái, trang sức, đặc biệt tác giả đề cập nhiều đến các lò làm sứ nổi tiếng đời Tống, qua đó nhận định đồ sứ đời Tống đã đánh dấu một thời kỳ cực thịnh của kỹ nghệ từ khí ở Trung Quốc.

Năm 1959, ông viết loạt bài nghiên cứu về Kinh Thi, tìm hiểu những vấn đề về tác giả, văn bản, nội dung, văn chương Kinh Thi. Tiếp đó, ông có bài viết về nguồn gốc văn học Trung Quốc, sau khi phân tích những tài liệu thật và giả về nguồn gốc văn học Trung Quốc đã kết luận rằng: những tác phẩm bằng văn xuôi tương truyền có trước đời Chu đều là ngụy tác, những thi ca tương truyền có trước đời Chu cũng đáng ngờ. Chỉ có bốc từ và kim văn là những chứng cứ vững chắc. Giáo sư còn nghiên cứu cả về các thi phái thời Đường, thơ mới của Trung Quốc thời cuối Thanh và sau này, tất cả những bài viết đều rất có giá trị tham khảo thời bấy giờ.

Khảo sát những công trình nghiên cứu khoa học của giáo sư, chúng tôi nhận thấy, tất cả những bài viết, bài nghiên cứu, công trình nghiên cứu đều được thực hiện công phu nghiêm túc, cẩn trọng tỉ mỉ, rõ ràng rành mạch, khảo chứng bằng nhiều cứ liệu xác đáng, cung cấp cho người đọc những kiến thức bổ ích, phong phú, tin cậy.

Những bài nghiên cứu của giáo sư, dù khảo biện những vấn đề liên quan đến Trung Quốc, cũng đều mang tính dân tộc cao. Nghiên cứu Trung Quốc, với giáo sư cũng là một phương tiện để đi vào nghiên cứu lịch sử văn hoá văn học Việt Nam. Nhiều bài viết của giáo sư rõ ràng xuất phát từ chủ ý này, như loạt bài nghiên cứu về văn hóa dân tộc trên các bình diện về văn hóa, văn học như Văn hoá Lý- Trần, quốc hiệu nước ta, Nguồn gốc chữ Nôm, về học chế ở Việt Nam qua các triều đại, quốc hiệu Đại Nam và Việt Nam… đặc biệt là các bài viết giới thiệu tác phẩm chữ Nôm dân tộc.

Nghiên cứu về Kinh Thi Trung Quốc, là để so sánh với một tác phẩm Văn hoá quang phong – một tác phẩm được đánh giá như Kinh Thi của Việt Nam; nghiên cứu Kinh Thi, Kinh Dịch là để khẳng định nguồn gốc thơ lục bát là của ta; giới thiệu Nam cầm khúc của Tuy Lý Vương là để so sánh với Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị Trung Quốc; nghiên cứu lịch sử Trung Quốc là để chứng minh và làm rõ những vấn đề thuộc về sử liệu ở nước ta...

Con đường mà giáo sư Bửu Cầm đã đi, đến nay những nhà nghiên cứu Hán Nôm lớp sau, đặc biệt là những học trò của giáo sư vẫn kế thừa tiếp tục. Tìm hiểu, nghiên cứu Trung Quốc, vừa là để hiểu lịch sử văn hoá của một đất nước có ảnh hưởng nhiều đến nước ta, cũng vừa là một kiểu giao lưu văn hoá, đồng thời cũng là một phương thức để hiểu hơn về lịch sử, văn hoá nước ta.

Xin cảm ơn ông Nguyễn Khuê, ông Nguyễn Tri Tài, cùng gia đình giáo sư Bửu Cầm đã dành thời gian trả lời phỏng vấn đồng thời đã cung cấp những tư liệu quý báu để người viết thực hiện bài viết này.

ThS. Lê Quang Trường




Copyright © 2008 - All rights reserved.