bao the gioi


CHẠY LOẠN - Kỳ 2
Trọng Ðạt


Sáng sớm hôm sau đoàn người thức dậy thu xếp súng ống, áo mền lên đường. Cỏ còn ướt sũng sương đêm, chim chóc đã hót tưng bừng trên các cành cây. Ðoàn người lại bò theo sườn đồi, vào rừng rồi lại leo lên những chỗ quanh co, cao thấp y như con trăn khổng lồ, tính ra cũng phải mấy ngàn người. Ði được vài tiếng thì nắng lên cao, nhiều nơi cảnh đẹp y như trong tranh vẽ. Tới gần một con suối mọi người dừng chân nghỉ cho đỡ mệt. Tôi gặp ông thiếu tá an ninh quân đội đang cầm bản đồ, ông ta có quen biết tôi trước đây. Thiếu tá gật đầu chào cười cười:
– Ông đến được đây như vậy cũng là giỏi, sức ông mà đi được như vậy cũng là hay rồi.
– Thì phải ráng chứ sao bây giờ.
Nói rồi tôi lại xem bản đồ trên tay ông thiếu tá. Ðường đi hiện rõ trên bản đồ chỗ nào có đồi, suối, lạch đều hiện rõ lên hết, ông trầm ngâm một lúc rồi ra giọng nhân nghĩa nói nhỏ với tôi:
– Bỏ dân lại thì tội nghiệp thật nhưng biết làm sao bây giờ?
Ông tự bào chữa cho mình, cho cấp chỉ huy đã bỏ dân ở lại để trốn sang sông. Nghe vậy tôi tự nhiên chột dạ tự nhủ: “Nhỡ mai mốt người Mỹ cũng nói như ông thiếu tá: “Bỏ Việt nam thì tội nghiệp thật nhưng biết làm sao bây giờ”... (Bây giờ nhớ lại tôi mới thấy sao hồi ấy mình nghĩ đúng thế chứ!)

Hôm sau trời còn mờ mờ tối đoàn người đã thúc giục nhau dậy sớm để đi cho kịp vì còn phải leo qua vài ngọn đồi mới tới Lâm Ðồng. Ðoàn quân băng xuống một con đường mòn dẫn vòng xuống chân một con đồi nhỏ, sương còn ướt đẫm cành cây ngọn cỏ. Ai nấy lặng lẽ lưng đeo ba lô, tay cầm súng luồn lách qua các bụi cây, các con đường mòn lại uốn khúc như con trăn lượn, tôi có cảm tưởng như đang hành quân ra mặt trận. Khi nắng lên cao mọi người bắt đầu leo đồi, chừng nửa giờ sau đại đội trinh sát leo được lên đỉnh một ngọn đồi thấp, chúng tôi dừng chân đun nước pha sữa, pha cơm sấy ăn rồi lại tiếp tục ra đi. Cam go nhất của cuộc hành trình là vượt qua một ngọn đồi gần một nghìn thước. Chúng tôi đi quanh một con đường mòn leo dần lên đỉnh, đi được một giờ lại nghỉ ngơi lấy sức, tôi mệt lử đến hoa cả mắt bèn tựa vào gốc cây nghỉ một lúc lâu. Hai vợ chồng một người nhân viên trong tòa hành chánh đi ngang qua trước mặt, chị vợ có bầu ba tháng, dắt đứa con trai lên sáu đang leo dốc, chị ta gật đầu chào. Tôi bèn đứng dậy cùng đi với họ rồi xoa đầu thằng bé bảo:
– Ráng lên đi cháu, gần đến nơi rồi.

Thằng nhỏ vô tư, tung tăng chạy sấn về phía trước, hai vợ chồng chị ta cũng khuyến khích tôi đi nhanh cho chóng đến nơi. Nhưng tôi theo không kịp, nhiều lúc phải ngồi nghỉ thở dốc cả giờ đồng hồ mới đứng dậy được. Tôi thấy người đau ê ẩm, mắt muốn hoa lên, chân mỏi nhừ tử nhấc lên không nổi bèn nằm lăn ra đất ngủ thiếp đi một giấc. Mấy người lính của tốp khác đi ngang qua gọi tôi:
– Dậy đi ông ơi! gần tới rồi.

Tôi nhỏm dậy theo đường mòn leo dần lên đỉnh đồi. Người ta ngồi nghỉ tràn lan, ai nấy thở dốc, vui cười pha trò. Họ đã vượt được chặng đường gian nan nhất, đã mất bao nhiêu mồ hôi nước mắt mới tới được đỉnh của ngọn đồi. Tỉnh tôi hiền lành, mọi người đều vui vẻ tử tế, suốt cuộc hành trình không hề xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Có ngờ đâu mười năm trước đây, tôi hay ngắm nhìn ngọn đồi này từ cửa sổ trường trung học ở Lâm Ðồng và bây giờ tôi lại leo qua đỉnh ngọn đồi cao ngất ấy. Tôi mong cho chóng đến nơi để được nghỉ ngơi mấy ngày, thăm bạn bè quen biết tại nơi mà mười năm trước tôi đã dạy học tại đây. Mọi người lại hân hoan, đeo ba lô vác súng lên đường. Chừng mười cây số nữa là tới Lâm Ðồng, những tiếng súng nổ vang vui mừng hòa cùng tiếng chim hót líu lo, tiếng gió đùa trong các cành cây. Rừng gồm toàn những cây lớn, nhiều thông, phong cảnh thật là ngoạn mục. Chim chóc ca hót tưng bừng như đón chào đoàn lữ hành, từng bầy chim vờn đuổi nhau ca hót trên các ngọn cây, thản nhiên bay lượn như không biết có người đang đi phía dưới. Chúng tôi ngồi nghỉ, đun nước sôi pha sữa uống dưới gốc cây. Trung úy Nhành tươi cười bảo tôi:
– Ông đi theo chúng tôi là chuột sa hũ nếp đấy nhá!

Mọi người vui vẻ pha trò, họ toàn là lính trẻ măng, hồn nhiên tử tế. Chúng tôi nghỉ ngơi rồi lên đường, chẳng bao lâu đã vào tới địa phận tỉnh Lâm Ðồng, đến một khúc suối tôi bèn xuống rửa mặt, gội đầu thật sạch rồi vội vã theo mọi người. Màn đêm từ từ buông xuống, khí trời tự nhiên mát lạnh như có máy điều hòa không khí, dấu hiệu cho biết họ đã tới cao nguyên Lâm Ðồng mát mẻ, một tỉnh đầy những đồn điền trà xanh ngắt. Bầu không khí mát lạnh dễ thương khiến tôi nhớ lại mười năm trước đã sống ở đây mấy năm. Qua một con lạch nhỏ mọi người đã thấy những đồn điền trà hiện rõ dưới ánh trăng, loáng thoáng điểm những căn nhà gỗ của dân địa phương. Tối ấy tôi ghé nhà một người địa phương quân ngủ nhờ, anh ta đãi cơm nước tử tế, hỏi thăm tình hình. Sáng hôm sau, ngày 27 tháng 3, tôi theo những người di tản vào tỉnh trong tiếng súng đại bác nổ ầm ầm như rung chuyển cả trời đất. Lâm Ðồng cho xe ra đón họ vào phi trường, những người lính trên xe giơ tay vẫy tôi và ra hiệu cho tôi đi nhanh theo họ, tôi chẳng hiểu gì. Một chiếc xe díp chạy vọt qua mặt tôi, họ cũng vẫy tôi, rồi một chiếc khác qua mặt tôi dừng lại, một người quân nhân đầu đội mũ sắt mặt mày lấm láp, râu rậm nhảy xuống kéo tôi lên xe bảo:
– Mình phải vào phi trường cho nhanh, Lâm Ðồng cũng di tản, ông đại tá tỉnh trưởng đang chờ chúng mình ở trong ấy, hồi nãy ông có nghe nó pháo vào tỉnh không? Ở đây người ta cho xe ra đón chúng mình!

Tôi lại ngẩn người ra chẳng hiểu gì. Chạy sang đây đúng vào ngày di tản của họ, nhưng số tôi cũng may, trên đường chạy loạn gặp toàn những người tử tế. Một lúc sau chúng tôi vào đến phi trường, lính tráng ngồi đầy cả ra, tiếng người nói chuyện ồn ào hoà với tiếng động cơ xe nhà binh tăng thêm phần náo động. Nhận ra ông đại tá tỉnh trưởng đang đứng gần đấy, tôi bèn nhảy xuống xe chạy lại, ông ta chìa tay ra bắt miệng cười hô hố:
– A ha! Anh mà cũng đến được đây cơ à!
Tôi nghĩ bụng: “Nó muốn cho mình chết ở trong rừng chắc!” Ông ta hỏi thăm nhóm anh em hành chánh vài câu rồi bảo tôi:
– Ngồi đây! Không được đi đâu nhá, lát nữa có máy bay đi Nha Trang, anh lên đó rồi xuống Di Linh.

Tôi lại tự nhủ “Nó cũng còn tốt, cho mình đi trực thăng”. Một lúc sau có năm chiếc trực thăng trên trời sà xuống đậu cùng một lúc, tiếng động cơ nổ rầm rầm, cánh quạt kêu phành phạch. Ông đại tá giơ tay ra hiệu, tôi chạy lại leo lên máy bay ngay. Ðủ số người máy bay cất mình lên cao, đảo một vòng rồi lao về phía trước. Trên máy bay nhìn xuống tôi thấy cả tỉnh Lâm Ðồng cũng đang chạy loạn, hằng trăm hằng nghìn chiếc xe nhà binh, du lịch, xe hàng, Honda... nối đuôi nhau vô tận chạy về Ðà lạt ở phía Bắc, nhìn xuống tôi thật sửng sốt. Người phi công ngoái cổ bảo:
– Lát nữa tới Di Linh rồi, ông xuống nhá!

Rồi một lúc sau máy bay là là sát mặt đất, họ thả tôi xuống một bãi đất trống bên trường học. Tôi nhảy xuống ngơ ngác nhìn quanh rồi chạy ra ngoài đường nhìn trước nhìn sau chỉ thấy quân dân lũ lượt tay xách nách mang leo lên xe di tản. Tôi tiếc ngẩn ngơ, biết thế cứ ngồi lì trên máy bay về Nha Trang luôn. Thấy một chiếc xe vận tải đậu gần đấy, tôi lẳng lặng bước lên, số người đã nhiều, bác tài bèn mở máy chạy vùn vụt nhập vào đám đông, mấy tiếng sau xe quành vào một xưởng cưa. Tôi xuống xe đi tới dãy nhà ngang, thấy người ta đang làm cơm cho nhân công ăn, những nồi cơm, chảo thịt, chảo canh đầy tú hụ bốc khói nghi ngút. Tôi chưa kịp hỏi thì một bà bằng một giọng rất tử tế bảo:
– Ông ăn không? Mời ông vào ăn.

Bà ấy dưa bát đũa cho tôi, tôi ngồi xuống ăn uống thoải mái rồi cám ơn bước ra đường. Giòng xe cộ vẫn ào ào như thác, tôi vẫy mãi chẳng có xe nào chịu ngừng. Thấy một xe máy cầy loại nhỏ chạy chầm chậm như xe đạp, tôi cứ nhẩy đại lên cái thùng dài phía sau, người tài xế chẳng nói năng gì chỉ lẳng lặng lái, một lúc sau mới hỏi thăm tôi vài câu. Xe cộ đủ loại chạy vùn vụt qua mặt tôi... Thấm thoắt đã mười năm qua, mới ngày nào Lâm Ðồng còn quê mùa mộc mạc nay đã phát triển quá nhanh, xe vận tải, xe du lịch, Honda... đầy đường. Ðến gần cây cầu bắc ngang con sông rộng mênh mang đoàn xe phải ngừng lại hết. Phía bên kia thuộc địa phận Ðà Lạt, lính canh bên kia cầu không cho đoàn xe qua vì Ðà Lạt chưa có lệnh di tản. Tôi đang nhìn qua cầu chờ họ cho đi, bỗng một anh chàng trẻ tuổi cưỡi Honda gần đấy gọi tôi:
– Ông thầy! Nhớ em không? Em là Tiến, học trò cũ của thầy đây.
Tôi mừng quá hỏi:
– Cho ta đi ké với, được không?
– Ô kê! mời thầy sang.
Tôi kể cho Tiến nghe chuyện băng rừng tuần qua, anh kể cho tôi nghe tình trạng Lâm Ðồng:
– Ông trung tá tỉnh trưởng lấy tiền trong ngân khố lên xe díp chạy từ 3 giờ đêm qua, sáng ra cả tỉnh mới biết.

Tiến cho tôi biết anh là thiếu úy nhảy dù giải ngũ, bị thương ở bàn tay trái nhưng vẫn lái xe được. Một lúc sau bên kia mở hàng rào cho đi, đoàn xe vô tận lao qua cầu vùn vụt. Nghe Tiến kể tôi mới biết tình trạng bi đát mà mấy tuần nay bị bao vây không hay, vùng Một của ta cũng bị thảm bại phải rút về Ðà Nẵng, chết nhiều lắm vì bị rơi vào tình trạng hỗn loạn, bọn lưu manh lợi dụng cướp bóc hãm hiếp, bắn giết tàn bạo. Trên đường chạy loạn tôi gặp nhiều bạn bè, học trò cũ ở đây nhưng chỉ kịp vẫy tay chào họ. Tiến đã thấm mệt, anh quành vào một quán nhỏ bên đường uống nước nghỉ ngơi, thấy một tờ báo ngày hôm qua ở trên bàn tôi vội giở ra đọc vì mấy tuần nay chưa được đọc báo. Trên trang nhất đầy những hình ảnh và những bài nói về tấn thảm kịch ghê gớm tại Ðà Nẵng khiến cho tôi rùng mình ghê sợ: tha ma nghĩa địa, gầm cầu, hố rác... chỗ nào cũng đông nghẹt những người chạy loạn trong cảnh màn trời chiếu đất, con người khổ hơn con chó! Những quả pháo của địch rớt vào khu đông dân cư gây lên những đám cháy như một biển lửa, không bút mực nào tả cho xiết những cảnh tang thương đau khổ. Nghỉ ngơi lấy sức và cho xe nguội máy chừng một giờ hai thầy trò lại tiếp tục cưỡi ngựa sắt chạy theo đoàn người di tản. Tới một phố chợ nhỏ chúng tôi ghé mua hai chục cà chua, vài ổ bánh mì rồi lại vội vã lên đường. Tôi bỗng nhận ra bọn lính trẻ của đại đội trinh sát đang ngồi ngất ngưỡng trên một xe chở đầy đồ đạc, những người đã dẫn đường cứu mạng tôi lúc băng rừng vừa qua. Họ vẫy tay tươi cười ra hiệu cho chúng tôi đi nhanh hơn, tôi bèn lấy cà chua liệng lên từng trái một, họ đưa tay chụp được hết, bọn lính trẻ thật hồn nhiên tử tế. Tôi bảo Tiến chạy lên Ðà Lạt để mua vé máy bay về Sài Gòn nhưng khi đến ngã ba Ðơn Dương thì thấy xe Ðà Lạt cũng đổ xuống dốc chạy ào ào như thác, nhiều nhất là xe vận tải. Tiến bảo tôi:
– Hết hy vọng lên Ðà Lạt rồi thầy ạ, mình phải về Phan Rang.

Cả hai đoàn xe Ðà Lạt, Lâm Ðồng cùng rẽ vào ngã ba Ðơn Dương, hai đoàn nhập một, đông vui như tết vậy. Mắt chưa trông thấy cảnh máu chẩy thịt rơi nên tôi thấy vui lạ. Ðoàn xe xuống đèo Ngoạn Mục, đường đèo đã được công binh sửa sang lại nay rộng rãi thênh thang tuyệt đẹp bên những hàng thông cao vút, phong cảnh thật là hùng vĩ nên thơ, tráng lệ không bút mực nào tả cho siết được. Ngay lúc chạy loạn hốt hoảng này tôi cũng cố để chút tâm tư thưởng ngoạn thắng cảnh của giang sơn. Con đường quanh co sạch bóng lượn vòng xuống chân đồi, tiếng thông reo vi vút như oán như than, như tiễn đưa giòng người chạy loạn. Khoảng chín giờ tối hôm ấy chúng tôi vào đến thị xã Phan Rang. Các trường học đã đầy nhóc những người, chúng tôi rẽ vào một ngôi chùa có mái hiên bên sân gạch rộng rãi. Tiến bàn với tôi sáng mai sẽ ngược đường về phía Bắc ra Nha Trang, hắn có gia đình tại đấy, tôi đồng ý vì cũng có bạn bè tại thị xã này. Mệt quá hai thầy trò bèn lăn ra nền gạch ngủ vùi như chết. Lúc bốn giờ sáng tự nhiên tôi thấy rét run cầm cập, lấy chăn quấn chặt vào người nhưng không thấy bớt, cơn lạnh như thấm vào tận xương tủy. Tôi bị cảm lạnh vì đã gội đầu tại suối nước khi vào địa phận Lâm Ðồng tối hôm qua. Tôi đã tỉnh hẳn, nước mắt ràn rụa, nhìn quanh thấy Tiến nằm cạnh và mọi người đang ngủ say li bì giấc điệp. Tôi dậy mặc thêm quần áo, quấn chăn ngủ tiếp, giấc ngủ sâu và nặng nề hơn trước... Tôi mơ thấy đang cùng Tiến dắt nhau chạy loạn trong rừng sâu đầy những suối lạch, núi đồi, bụi rậm... Tôi bỗng thấy mình hoa mắt, chân tay bủn rủn được Tiến dìu qua một rãnh nước, tôi chập chững không cất bước nổi và thều thào bảo Tiến:
– Em hãy khiêng ta đi, khi ta chết em nhớ chôn ta!
Tôi choàng dậy, Tiến đang đập vào vai bảo:
– Thầy ơi! dậy đi thôi!
Hai thầy trò đi ăn sáng tại một tiệm phở, tôi nhai mấy sợi phở rồi thở dài:
– Ăn như ăn gỗ đá vậy! Người nó bần thần mệt mỏi lạ.
Tôi húp vài muỗng nước lèo rồi thừ ra ghế, người đệ tử trung thành ra vẻ thương tình bảo:
– Ráng lên thầy, mình phải ra Nha Trang tìm đường về Sài Gòn, trưa nay mình có thể tới Nha Trang, ở đấy còn yên!
Ăn xong Tiến chở tôi đi mua thuốc, tôi uống một lúc hai viên thấy cũng đơ đỡ. Sáng hôm ấy chúng tôi lại rong ruổi trên đường trường về hướng Bắc, không biết rằng tại Ðà Nẵng, Tuy Hòa hằng ngàn vạn người cũng đang chạy chối chết về Nha Trang ngược chiều với mình.

Ðường quốc lộ hôm nay thật vắng vẻ, chiếc Honda cứ chạy vùn vụt giữa cảnh đồng không mông quạnh, mấy tiếng đồng hồ sau Tiến rẽ vào một cái quán bên đường. Người bán hàng không hay biết gì, chúng tôi cũng giấu không dám nói thật sợ gây hoang mang. Uống nước dừa xong tôi ngả người vào ghế lim dim đôi mắt rồi chìm vào trong giấc mộng, toàn là những cơn ác mộng hãi hùng như cảnh đám dân chạy loạn bị bỏ lại trong rừng kêu khóc thảm hại. Tiến lay tôi dậy, tôi thấy mệt và buồn ngủ khủng khiếp chỉ muốn nằm lăn ra đấy. Hai thầy trò lại cưỡi Honda phóng ào ào trên con đường quốc lộ vắng tanh mãi đến trưa thì tới Nha Trang, Tiến rẽ vào nhà ông anh thiếu tá hiện đang ở Tuy Hoà chưa có tin tức gì, bà chị dâu bằng giọng Huế ngọt ngào than thở trách cậu em:
– Trời ơi! sao không ở lại giữ nhà, chạy đi đâu em? Ở lại còn giữ được nhà cửa, đi thì mất hết.
Tiến thở dài:
– Ba, mẹ, các anh em theo xe nhà binh đi hết cả, chỉ có mình em đi Honda, nó vào đến nơi rồi chị ạ!
– Chạy đi đâu cũng vậy em ơi! Nó lấy Kontum Pleiku, sắp lấy Qui Nhơn Ðà Nẵng... rồi cũng lấy Nha Trang. Chạy đi đâu bây giờ, trời ơi! Sao ba mẹ không bảo các em ở lại! Tứ xứ kéo về đây đông quá trời, nó pháo vài quả là xéo lên nhau mà chết chứ gì? Trời ơi! sắp mất hết rồi! Tỉnh nào cũng mất.

Bây giờ nhớ lại sao tôi thấy bà ấy nói đúng và hay đến thế, hồi ấy tôi và có lẽ biết bao người khác lại không nghĩ ra! Tôi vừa ngồi nghe vừa ngủ gật, bà chị Tiến thấy vậy bảo:
– Trời ơi khổ chưa? Em đưa ông ấy vào phòng nghỉ đi.
Tiến dẫn tôi vào phòng, tôi nằm vật ra giường ngủ như chết vậy. Mấy tiếng sau Tiến lay tôi dậy ăn cơm mà tôi không sao ngồi dậy được, chưa bao giờ tôi ngủ ngon như vậy. Mãi đến chiều mới tỉnh, tôi mượn Honda đi tìm mấy người bạn. Ðến nhà người bạn học cũ làm cảnh sát trưởng tại đây không gặp, tôi đến nhà Bá, làm ở giám sát viện để nhờ:
– Tôi nhờ anh có cách nào giúp tôi về Sài Gòn được không? Anh ta chỉ người bạn ngồi cạnh:
-Ðây đây, tôi có ông bạn, xin giới thiệu ông dược sĩ Tuấn, ông này mướn tầu chở đồ đạc, thuốc men về SàiGòn, sáng mai tầu rời Cầu Ðá, hỏi ông ấy đi!
Ông dược sĩ cứ cười cười khiến tôi cũng ngại, nói chuyện khá lâu, lúc ra về tôi đánh liều hỏi:
– Sáng mai tôi ra Cầu Ðá được không anh?
– Dạ được! Anh cứ ra đấy lúc bẩy giờ anh ạ.
Ông ta cho biết số tầu, đậu ở đâu... tôi ghi mọi chi tiết vào tờ giấy, trong lòng an tâm hẳn lên. Thế là tôi lại gặp người tốt, từ khi lên đường chạy loạn vào rừng đến nay tôi gặp toàn những người tử tế, cho tới nay tôi cũng không hiểu sao mình lại may mắn đến thế.

Tờ mờ sáng hôm sau, ngày 29 tháng 3 năm 1975, Tiến đánh thức tôi dậy ăn sáng rồi chở tôi ra Cầu Ðá, tôi đem theo mấy ổ bánh và một túi quần áo. Tiến chở tôi đến tận nơi, chúng tôi chia tay nhau tại cửa vào bến, anh chìa tay ra bắt rồi chúc tụng:
– Em chúc cho thầy lên đường bình an! Nếu có gì trục trặc thầy gọi điện thoại về nhà, em sẽ ra đón, hay thầy thuê xe về cũng được. Cầu Chúa ban ơn phước cho thầy.

Ôi cái cảnh biệt ly sao mà buồn thế! Tôi bùi ngùi cảm động muốn rơi nước mắt nhưng niềm vui sắp được về với gia đình lại khiến tôi vui mừng ngay. Tôi bắt tay, cám ơn Tiến rồi xách túi vào bến, từ đấy tôi không bao giờ gặp lại Tiến, người đệ tử, người ân nhân, tôi không biết anh đã phiêu bạt phương nào. Bèo hợp rồi tan, nhất ẩm nhất thực giai do tiền định, cuộc hội ngộ ngắn ngủi chỉ có mấy ngày nhưng nó thể hiện biết bao tình nghĩa sâu xa, không bao giờ tôi quên được những ngày thắm thiết ấy.

Tôi vào bến thấy một chiếc tầu dài mấy chục thước đúng y như số hiệu ông dược sĩ đã cho, thấy một ông to cao chắc là thương gia đang coi người ta trục xe hơi của ông lên tầu, tôi bèn lại gần hỏi thăm. Ông này dân Bắc Kỳ di cư ra giọng hách dịch bảo:
– Tôi không biết ông dược sĩ Tuấn là ông nào hết.
Chờ mãi sốt cả ruột, chừng hai giờ sau mới thấy ông dược sĩ lại gần tầu, tôi mừng quá chạy tới bắt tay hỏi, Tuấn vui vẻ bảo:
— – Dạ cứ lên đại đi anh ạ!

Tôi nghe ông bèn bước lên tầu. Tuấn nói chuyện với ông nhà giầu một lúc rồi chào tôi ra về, ông ta chỉ thuê tầu chở thuốc chứ không đi theo tầu. Ðó là lần cuối cùng tôi gặp Tuấn, ông cũng là người ân nhân đã cứu tôi thoát nạn. Một lúc sau tầu nổ máy rẽ sóng chạy men theo bờ xuôi về Nam, chỉ một ngày trước khi Nha Trang xảy ra hỗn loạn. Hôm ấy tầu di tản từ Ðà Nẵng chở xác chết của mấy trăm đứa trẻ nít cập bến để đưa vào nhà xác, người ta đạp lên xác chết mà chạy, bọn tù quân lao thoát ra khỏi trại bắn giết, cướp bóc hãm hiếp khắp thành phố, tôi thật may mắn quá, đến đâu cũng có quí nhân phò trợ. Gió biển lồng lộng thổi vào mặt tôi, mặt biển trong xanh tuyệt đẹp rộng mênh mông đến tận chân trời xa tít. Tôi xin được một ly trà, lấy bánh ra ăn rồi dựa vào thành tầu nhìn đàn cá bay là là trên mặt nước, nhớ lại hai mươi năm trước đây theo gia đình di cư vào Nam, đứng trên boong tầu Mỹ nhìn xuống biển cũng thấy những đàn cá bay như vậy, và bây giờ đây là lần chạy loạn cuối cùng trong đời tôi.

Tối ấy chúng tôi vào phòng lái nghe đài BBC Luân Ðôn, người hoa tiêu quay lại nói vội vã:
– Ðà Nẵng thất thủ rồi, một trăm nghìn quân bị bắt làm tù binh.

Người ta bàn tán về những tin tức khủng khiếp ngoài Ðà Nẵng, một thành phố bỏ ngỏ cho sự hỗn loạn, cướp bóc hãm hiếp, bắn giết... Tôi nằm xuống sàn ngủ nhưng tầu bị sóng đánh ngả nghiêng khó ngủ lắm, người tôi đau nhức như rần, phần vì ăn uống thất thường cả tuần nay, và vì bệnh vẫn còn, mỗi lần tầu nhào xuống, ngoi lên tôi lại thấy y như ai cầm gậy đánh vào lưng mình, nhưng đến khuya cũng ngủ được một giấc. Trưa hôm sau đã đến Vũng Tầu, đài ra-đa bãi trước hiện ra, ai nấy vui mừng hớn hở. Tôi xuống bến, ra đường lộ đón xe về Sài Gòn. Về đến nhà, khi tôi bước vào sân, ai nấy chạy ra kinh ngạc, mẹ tôi, anh chị tôi tưởng tôi đã chết rồi. Cả nhà náo động hẳn lên vì mừng rỡ, hàng xóm cũng chạy sang hỏi thăm tình hình, vẻ lo âu hiện lên nét mặt họ.
Trong số những người viên chức hành chánh chạy đường bộ, tôi là người về Sài Gòn trước nhất vì may mắn đi theo đại đội trinh sát của ông Nhành, họ đi đúng đường. Những người kia không có bản đồ, đi theo địa bàn bị lạc đường, một người mất tích, một số chạm súng với Việt Cộng, một người bị thương, họ yếu thế phải đầu hàng, bị tước khí giới nhưng không bị bắt. Họ về được Phan Rang trong ngày di tản rồi kéo nhau về Phan Thiết trong cảnh hỗn loạn hãi hùng, đã trải qua biết bao chặng đường chông gai rồi mới lần về được Sài Gòn. Tôi đã được nhiều quí nhân phò trợ trong cuộc di tản cam go, Nhành, Tiến, Tuấn đã giúp cho tôi về nhà bình an, điều đáng tiếc là tôi không được gặp lại những người nhân đức ấy, trong cơn khói lửa mịt mù không biết họ đã phiêu bạt nơi đâu? Những hy vọng ngây thơ của người miền Nam dần dần tan thành mây khói. Ðất nước bị bỏ ngỏ như một miếng mồi ngon. Cộng quân tiến nhanh như vũ bão, chẳng mấy chốc địch đã tiến sát vòng đai bảo vệ thủ đô. Tổng thống Dương Van Minh vừa lên cầm quyền thì phi trường Tân Sơn Nhất bị ném bom dữ dội.

Tôi về Sài Gòn hôm 30 tháng 3 đến nay đã được gần một tháng, tối hôm ấy cả nhà tôi thức giấc vì tiếng còi báo động từ phiá phi trường Tân Sơn Nhất rú lên ghê rợn trong đêm tối, tiếp theo là những tiếng đạn pháo kích nổ long trời lở đất. Nhà tôi ở Phú Nhuận nghe rõ lắm, cả nhà không ai bảo ai mọi người đều nằm rạp xuống sàn gạch hết. Tiếng đạn nổ hòa với tiếng còi báo động ghê rợn một lúc lâu thì êm hẳn, khi ấy tiếng o... o... o... của những chiếc máy bay cất cánh bỏ chạy sang Thái Lan, tiếng động cơ máy bay cũng ghê rợn như tiếng pháo của địch và tiếng còi báo động ban nãy. Tình hình hôm sau lại găng hơn trước, đạn bay súng nổ ầm ầm, những quả pháo khủng bố của địch rơi vãi khắp nơi, rải rác trong thành phố chỗ nào cũng có người chết, người bị trúng đạn. Cả nhà tôi trong cơn hốt hoảng phải dọn đến nhà bà cô ở đường Võ Di Nguy, đó là một căn nhà lầu đúc ba tầng kiên cố. Chúng tôi, chủ nhà và một gia đình nữa ở tầng dưới cùng tránh đạn vì nếu chúng có pháo vào nhà, hai tầng trên đã đỡ được đạn. Khi ấy người ta chạy loạn tới tấp ngoài đường phố y như hồi tết Mậu Thân, nhiều người chở túi, bị trên xe gắn máy phóng như bay từ hướng phi trường, Gò Vấp về Sài Gòn. Hôm ấy trận giông bão đầu mùa đổ xuống, cành cây lá cây vương vãi khắp vỉa hè.
Hôm sau tình hình có vẻ dịu hơn trước, tiếng súng đạn bớt hẳn đi, người đi đường đông hơn trước, đa số là dân chạy loạn. Lúc gần trưa cả nhà chạy lại máy thâu thanh nghe chính phủ mới tuyên bố buông súng đầu hàng. Từ lúc đài phát thanh Sài Gòn truyền lệnh của ông tổng thống mới thì tiếng súng tự nhiên ngớt dần rồi im bặt. Người ta không còn nghe thấy tiếng đại bác ầm ầm đâu đây, y như cơn phong ba bão táp đã qua, bây giờ là cảnh trời yên bể lặng. Không ai bảo ai, dân chúng tự động kéo nhau ra đứng đầy hai bên đường phố để được chứng kiến biến cố lớn nhất trong lịch sử nước ta từ trước đến nay. Ảnh hưởng của trận mưa bão đầu mùa vẫn còn, mây đen u ám giăng đầy trên không. Hôm nay là cảnh trời sầu đất thảm, mưa tuôn rả rích, những hạt mưa phùn lấm tấm tựa như muôn nghìn giọt lệ tự trên trời đổ xuống để khóc than cho số phận cay đắng nghiệt ngã của một đất nước hiền lành vô tội trước sự sai lầm của lịch sử, lịch sử đã chọn Ma Vương Tà Giáo. Hàng nghìn vạn người đội mưa đứng nhìn giòng xe quân sự từ hướng Tổng Tham Mưu, Gò Vấp, Gia Ðịnh đổ về Cầu Kiệu, Sài Gòn. Những hạt mưa phùn lấm tấm phủ một làn nước mỏng trên mặt đường làm cho nó trơn bóng lên. Tôi cũng nhập bọn với đám đông để nhìn những người lính chiến đấu đội mũ sắt ngồi ủ rũ trên xe díp, xe GMC, xe kéo pháo... đang từ từ lướt qua mặt đám người bàng quang đông đảo đứng hai bên lề. Tôi nhìn họ mà thấy trong lòng như đứt từng khúc ruột, dẫu cho đến ngày nhắm mắt lìa đời tôi cũng không bao giờ quên được ngày hôm ấy. Làn mưa vẫn còn loáng thoáng, xe nhà binh vẫn tiếp tục từ ven đô tiến về Sài Gòn liên tu bất tận, vài người lính tươi cười đưa tay vẫy chào dân chúng, phần nhiều ủ rũ cúi mặt đăm chiêu. Tôi chăm chú nhìn những con người ấy như đọc lên được cái tâm tư tuyệt vọng trên nét mặt sầu thảm và đôi mắt u hoài của họ. Kể từ nay một thời chinh chiến đã qua, họ giã từ vũ khí, súng ống chúc nòng xuống biểu hiệu của sự đình chiến. Tôi đưa tay vẫy mấy người lính trẻ khi xe díp của họ chạy gần phía tôi. Họ tươi cười cầm mũ vẫy chào lại để biểu lộ niềm thông cảm quân dân. Tôi nhìn theo họ cho đến khi chiếc xe díp mất hút về phía cuối phố và tự nhiên thấy thương mến những chàng trai ấy quá. Một chiếc xe tăng chạy ầm ầm trên đường nhựa, người lính thiết giáp đầu đội mũ sắt đứng trên xe trông oai vệ như khi lâm trận, anh ta tươi cười vẫy tay chào hai bên lề bảo:
–- Hòa bình rồi!

Anh ấy nói đúng, nhưng sao tôi thấy nó chua chát quá! Chiến tranh đã chấm dứt, chạy loạn không còn nhưng cay đắng tủi chục thì như không bao giờ hết! Tôi ngước mắt nhìn trời, những hạt mưa bụi lấm tấm rớt đầy mặt. Tôi nhìn theo hai chiếc phản lực cơ cao vút trên nền trời u ám và ướt sũng nước, chúng bay vút lên thật cao vòng qua vòng lại, những chiếc máy bay Mỹ từ Thái lan qua để quan sát cuộc di tản của họ, nhiều người cũng ngước mắt nhìn hai chiếc máy bay trên nền trời cao vút ấy, một quang cảnh trời cao u buồn không bút mực nào mà tả cho siết được. Bầu trời hôm nay xám đen thê thảm, trận giông bão đầu mùa đã tạo lên một mầu tang tóc.

Mấy tiếng đồng hồ sau Cộng quân ồ ạt tiến vào Thủ Ðô Sài Gòn bỏ ngỏ làm bốn ngả: cánh đầu tiên từ Long An kéo lên, kế đó cánh từ Củ Chi qua Ngã Tư Bảy Hiền, cánh thư ba từ Long Khánh theo xa lộ Biên Hoà, cánh cuối cùng từ Bình Dương theo ngả xa lộ Ðại Hàn vào Hàng Xanh Thị Nghè. Hồi mới mở chiến dịch tổng tấn công, địch dự trù phải mất hai năm mới chiếm được miền Nam, ấy thế mà bây giờ chúng tiến vào giải đất này y như vào chỗ không người. Xích sắt xe tăng địch nghiến rầm rầm trên đường nhựa của Thủ Ðô, chiếc xe tăng đi đầu ủi sập cánh cửa sắt của dinh độc lập rồi tiến vào trong sân, chúng bắn một loạt đại liên thị uy “đoàng đoàng đoàng” thật ghê sợ. Bọn bộ đội nhảy xuống đất rồi chạy ùa vào trong dinh, người đi đầu là một viên đại úy, hắn được một số viên chức đón tiếp tại cửa vào. Viên đại úy hỏi thăm đường lên lầu rồi chạy vụt lên ngay như tranh cướp với thời gian, tới nơi hắn nhanh tay gỡ lá cờ vàng xuống và treo ngọn cờ địch lên thay để chứng tỏ rằng toà dinh thự này, giang sơn này đã hoàn toàn thuộc về tay chúng.

Vào lúc rạng đông tại Hoa Thịnh Ðốn, cú điện thoại đầu tiên từ bộ chỉ huy của Ðệ Thất Hạm Ðội gọi về báo cho Tổng Thống hay tin Sài Gòn thất thủ. Một trang sử đã được giở qua. Dân Sài Gòn lo sợ ngày mai không có gạo ăn, nhiều người đổ xô đến các kho gạo để khuân về nhà, họ đi lấy đồ tại các kho mãi đến khuya hôm ấy.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, một ngày dài nhất của lịch sử miền Nam nước Việt từ từ chấm dứt. Nó kết thúc một cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ từ mấy chục năm qua và đánh dấu một trang sử ô nhục, dẫu cho muôn đời cũng không bao giờ rửa sạch. Mặt trận cuối cùng bắt đầu từ ngày mồng 9 tháng 3 năm 1975 khi Cộng quân tấn công quận Ðức Lập và Ban Mê thuột cho đến nay ngày 30 tháng 4 năm 1975 tính ra mới có năm mươi mấy ngày. Việt Minh tấn công quân Pháp tại Hà Nội ngày 19 tháng 12 năm 1946, đó là ngày khởi đầu của cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ, cho đến nay ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày kết thúc. Thấm thoát đã 30 năm qua, 30 năm khói lửa, 30 năm dày vò xâu xé đất nước tôi. Ai gây nên cảnh tương tàn? Cuộc chiến tranh dài đằng đẵng ấy đã giết hại hằng mấy triệu đồng bào tôi, tàn phá quê hương tôi, thiêu đốt hàng trăm hàng nghìn làng mạc đô thị của đất nước tôi, kìm hãm dân tộc tôi trong vòng nghèo đói lạc hậu... Nó sẽ ÐỜI ÐỜI ÐẮC TỘI trước Non Sông và Tổ Quốc.

Trọng Ðạt (2005)


Copyright © 2008 - All rights reserved.