

|
Phạm Phong Dinh Ngày 9.1.1962 tại Quy Nhơn, thủ phủ quan trọng của miền Trung nguyên Trung phần, một đại đơn vị được long trọng thành lập để đáp ứng với tình hình chiến trường đã bắt đầu có chiều hướng nghiêm trọng, sau khi tổ chức cộng phỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một nhóm quân tay sai được CS Bắc Việt nặn ra để khuấy phá miền Nam, song song với việc Hà Nội thành lập Ðoàn 559 để tổ chức đưa binh đội Bắc Việt xâm nhập vào lãnh thổ VNCH. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh hãnh diện góp mặt với các sư đoàn bộ binh đi trước ngay tại miền đất huyền thoại của người anh hùng áo vải Ðại Ðế Quang Trung Nguyễn Huệ, cùng những hào kiệt anh thư lừng lẫy Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng,... từng một thời đánh tan tành đạo quân cuồng chiến 20 vạn của quân Thanh.Chỉ có duyên nợ với vùng đất linh thiêng này không quá hai năm, tình hình miền Nam đòi hỏi sự có mặt của Sư Ðoàn Mũi Tên Thép, nên tháng 9.1963 toàn sư đoàn nhận lệnh di chuyển vào Nam nhận trách nhiệm bảo vệ Khu 43 Chiến Thuật gồm những tỉnh Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Vĩnh Long (bao gồm tỉnh Sa Ðéc chưa được tái lập), Kiến Phong, An Giang (kể cả tỉnh Châu Ðốc chưa được tái lập) và Kiên Giang. Vị Tư Lệnh đầu tiên của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh là Ðại Tá Bùi Dinh đã cương quyết từ chối không tham dự vào cuộc đảo chánh 1.11.1963, nên Bộ Tổng Tham Mưu thời Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đã cử Ðại Tá Ðoàn Văn Quảng (sau lên Thiếu Tướng) xuống thay thế ngày 7.11.1963. Những Vị Tư Lệnh Sư Ðoàn: Chiến sĩ Sư Ðoàn 9 Bộ Binh hãnh diện nằm dưới quyền chỉ huy của những vị Tư Lệnh sau: - Ðại Tá Bùi Dinh: 01.01.1962 - Ðại Tá Ðoàn Văn Quảng: 07.11.1963 - Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc: 09.02.1964 - Chuẩn Tướng Lâm Quang Thi: 29.05.1965 - Chuẩn Tướng Trần Bá Di: 03.07.1968 - Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc: 26.10.1973 - 30.04.1975 Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Tại Mặt Trận An Lộc Vào trung tuần tháng 5.1972, giữa lúc mặt trận An Lộc thuộc Quân Khu III đang lên đến cực điểm sôi động, thì Trung Ðoàn 15 Bộ Binh của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh được lệnh tạm rời chiến trường sình lầy tăng viện cho Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. Chọn lựa Trung Ðoàn 15 gửi lên chiến trường lạ đất, lạ người, không phải là không có lý do xác đáng. Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Ðoàn Trưởng, từng nổi tiếng là một trong những dũng tướng miền Tây. Xuất thân từ Trường Thiếu Sinh Quân và binh chủng Biệt Ðộng Quân, dù cho sình lầy hay rừng núi, thì những mặt trận đó đều nằm trong chuỗi kinh nghiệm chiến đấu của người Ðại Tá trẻ. Ông đã đánh trước sau 300 trận lớn nhỏ, và có lẽ là người lính được ân thưởng nhiều huy chương nhất của Quân Lực VNCH. Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, tờ bán nguyệt san thân thương của mỗi người lính chúng ta ấn hành 100 ngàn số mỗi kỳ trước năm 1975, đã viết về người Trung Úy trẻ Biệt Ðộng Quân Hồ Ngọc Cẩn như sau: “Trong cuộc hành quân Dân Chí 135 / SÐ ngày 13.5.1965 mang lại chiến thắng lớn lao cho Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tai Giai Lang (Bạc Liêu), người ta không thể không nói đến Tiểu Ðoàn 42 Biệt Ðộng Quân. Mệnh danh là Tiểu Ðoàn “Cọp Ba Ðầu Rằn”. Ðã nói đến Tiểu Ðoàn Cọp Ba Ðầu Rằn trong trận này, không thể không nhắc đến Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn, “tài tử chính” trong một khúc phim gay cấn để tiêu diệt khẩu phòng không của địch. Khúc phim này diễn tiến như sau: Cả Tiểu Ðội 1, Trung Ðội 3 do Thượng Sĩ Nguyễn Văn Nhi đã dùng súng phóng lựu và lựu đạn tay để cố tiêu diệt ổ đại liên này của đi.ch. Nhưng vì cách con đê, hỏa lực ta không đạt được kết quả. Ngược lại chúng cũng không làm gì được ta. Hai bên vừa bắn vừa... chửi nhau. Ta kêu chúng đầu hàng, chúng giả đò nghe theo. Nhưng khi quân ta sắp tiến lên thì chúng lại bắn. Cuộc giằng co giữa Tiểu Ðội của Thượng Sĩ Nhi và ổ súng địch kéo dài khá lâu, thì Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn, Ðại Ðội Trưởng, bèn thi hành một quyết định táo bạo. Nhờ hai xạ thủ trung liên bắn che chở, Trung Úy Cẩn bò nhanh tới trước họng súng địch, ôm lấy một xác VC để lấy trớn, rồi tung lựu đạn vào hố đại liên. Lựu đạn nổ, xác địch tung lên và ổ đại liên phòng không lọt vào tay các chiến sĩ ta. .. Trung Úy Hồ Ngọc Cẩn sau trận Giai Lăng được vinh thăng Ðại Úy. Ðại Úy Cẩn xuất thân Khóa 2 Sĩ Quan Hiện Dịch, tốt nghiệp Chuẩn Úy tại Trường Hạ Sĩ Quan, Ðồng Ðế, Nha Trang.” Ðại Tá Cẩn nhận nhiệm vụ đánh thông Quốc Lộ 13 từ quận Chơn Thành lên An Lộc. Ðể tăng cường sức mạnh cho Trung Ðoàn 15, Chuẩn Tướng Di gửi theo Chi Ðoàn 1 thuộc Thiết Ðoàn 2 Kỵ Binh, một Pháo Ðội 105 ly của Tiểu Ðoàn 93 Pháo Binh . Ðể họp thành Chiến Ðoàn 15 và được đặt dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Cẩn. Chuẩn Tướng Di bay lên Bình Long thăm và khích lệ chiến sĩ Trung Ðoàn 15 và tin tưởng trao trọng trách lại cho người dũng tướng nước Nam, rồi ông trở về miền Tây tiếp tục hành quân càn quét Sư Ðoàn 1 Bắc Việt. Trong những ngày đầu đặt chân lên miền đất đỏ xa lạ và những cánh rừng cao su bạt ngàn, địa thế hoàn toàn khác hẳn với chiến trường miền Tây quen thuộc, luôn luôn chịu áp lực rất nặng của những cơn bão pháo và vũ khí nặng của quân cộng, chiến sĩ Trung Ðoàn 15 đã chế ngự được những khó khăn và chết chóc để tiến vào những vùng đất tử thần, mà ở đó mỗi bước chân là mỗi sự chết rình rập. Xa Cát, Xa Cam, Tàu Ô, vượt qua được những địa danh gai góc này, Ðại Tá Cẩn đã áp dụng lối đào hố cá nhân, mỗi binh sĩ chỉ ở trong cái hố của mình, không đào giao thông hào. Pháo địch dội xuống trận liệt Trung Ðoàn 15 hàng trăm quả, nhưng gây thiệt hại rất nhỏ, vì rất khó mà viên đạn pháo có thể “thảy lỗ” trúng vào những cái hố cá nhân nhỏ xíu đó. Hết cơn pháo, quân ta trồi lên tiếp tục tiến, cho đến khi toàn Chiến Ðoàn 15 vào được Tân Khai. Ðối đầu với những chốt giặc dầy đặc của Sư Ðoàn 7 Bắc Việt từ Chơn Thành lên suối Tàu Ô, ba Trung Ðoàn 31, 32 và 33 của Sư Ðoàn 21 Bộ Binh rất chật vật chiếm từng thước đất một. Trong lúc Sư Ðoàn 7 Bắc Việt và Sư Ðoàn 21 Bộ Binh đánh dằng dai bất phân thắng bại dọc theo Quốc Lộ 13 từ ngày 12.4.1972 sang đến tháng 5.1972, thì cộng quân đã không kiểm soát được một cái lỗ hổng khá lớn nằm giữa An Lộc và Tân Khai, nên Ðại Tá Cẩn nhân cơ hội đó đã thọc mũi dùi xuyên qua trận địa địch chiếm được xã nàỵ. Tân Khai nằm cách thị trấn An Lộc chừng 9 cây số về hướng Ðông Nam, là một vùng đất mà cộng quân coi là không có giá trị quân sự vì địa thế trống trải của nó, nên đã bỏ mặc đó và cũng không ngăn cản người dân Tân Khai di tản lánh nạn về phương Nam trong những ngày đầu tháng 4.1972. Ý đồ của Công Trường 7 Bắc Việt là dùng Trung Ðoàn 165 và 209 cầm chân Sư Ðoàn 21 Bộ Binh ngay tại Tàu Ô phía dưới Tân Khai, nếu quân ta không qua khỏi Tàu Ô thì Tân Khai dù có bỏ trống cũng không ảnh hưởng gì đến trận thế của chúng. Nhưng Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn III và Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Ðoàn III đã nhìn thấy ở Tân Khai một đặc điểm chiến lược có thể gây khó khăn cho quân cộng, mặt khác có thể làm xoay chuyển được tình thế để mở thông đường vào An Lộc, nên Chiến Ðoàn 15 nhận lệnh bất ngờ tiến vào Tân Khai. Dưới sự điều động của Ðại Tá Cẩn, Bộ Binh, Kỵ Binh và Pháo Binh nhanh chóng thiết lập căn cứ yểm trợ hỏa lực, Pháo Ðội C của Tiểu Ðoàn 93 Pháo Binh bắt đầu rót đạn vào yểm trợ quân bạn trong thành phố An Lộc. Dĩ nhiên cấp chỉ huy mặt trận An Lộc của địch phải thức tỉnh và bằng mọi cách phải nhổ cho được cái gai kỳ dị này, ngay giữa trung tâm sức mạnh của chúng. Ðại Tá Cẩn và chiến hữu của ông biết rằng Chiến Ðoàn 15 đang ở trong tận hang cọp, quân ta sẵn sàng mở một trận thư hùng sống chết với giặc. Trong những lúc dầu sôi lửa bỏng, người lính Trung Ðoàn 15 đã thấy người chủ tướng của mình, theo thông lệ rất bình thường, vẫn bình thản đứng thẳng người để lượng giá tình thế, giữa những loạt pháo kinh hồn của địch dội xuống quyết hủy diệt Chiến Ðoàn 15.Tình hình rất trầm trọng, nó đòi hỏi sự hy sinh cao độ của người lính VNCH, mà điều đó thì Ðại Tá Cẩn và Chiến Ðoàn 15 có thừa. Sư Ðoàn 9 và Sư Ðoàn 7 Bắc Việt điều động hai trung đoàn tiến đánh quyết tàn sát Chiến Ðoàn 15. Hàng chục chiến xa T54, T59 ầm ầm lăn bánh xích về Căn Cứ Hỏa Lực Tân Khai để hủy diệt những chiếc thiết vận xa M 113 nhỏ bé của quân ta. Chiến xa T59 do Trung Cộng biến cải từ loại chiến xa T54 của Liên Sô, trang bị thêm súng đại liên dưới chân tài xế nên quân ta rất khó xông đến gần để ném lựu đạn. Giữa đêm khuya, bọn lính cộng gọi nhau tập hợp ơi ới. Một bọn sát nhân mà hàng ngũ lộn xộn, chỉ biết có mỗi chiến thuật dùng số đông lấy thịt đè ngườị. Nhưng dù có ô hợp đến thế nào, thì cuối cùng bọn lính cộng cũng tập trung được và rần rộ kéo nhau về hướng Tân Khai. Có thể nói đây là một tiểu An Lộc, mà kích thước và cường độ lửa đạn của nó cũngkhốc liệt không kém những gì đang xảy ra trong An Lộc.Rất ít tài liệu diễn tả lại trận đánh kinh hồn này. Chỉ biết rằng Chiến Ðoàn 15 giữ vững được Căn Cứ Tân Khai cho đến ngày 24.6.1972, là ngày cuộc chiến đang trong những giây phút lụi tàn, với phần thắng nghiêng về phía Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Có nghĩa là Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Chiến Ðoàn 15 đã ở trong cái ốc đảo Tân Khai hơn một tháng trường mà địch quân đánh không thủng nổi, mặc dù Chiến Ðoàn 15 bị thiệt hại rất nă.ng. Sự thiệt hại đó được đánh đổi bằng một cái giá quá lớn đối với quân CS: 304 cán binh cộng tử trận, Chiến Ðoàn 15 tịch thu 41 vũ khí nặng, 85 vũ khí cá nhân. Ðồng thời chiến sĩ Chiến Ðoàn 15 còn anh dũng bắn hạ 13 chiến xa PT76 của giặc. Ðể bắn cháy một chiếc PT76, không phải là chuyện dễ dàng, vì cái mũi của nó rất bén và rất dẹp, rất khó bắn cháy nó theo chiều đối diện. Có thể là những khẩu đại bác không giật 106 ly của M113, những khẩu đại bác 105 ly trực xạ và trên hết trái tim dũng cảm của người lính bộ binh miền Tây với những khẩu phóng hỏa tiễn M72 nhỏ xíu đã làm nên được chuyện đó. Một vị Tiểu Ðoàn Phó kể lại chuyện lấy nước uống của chiến sĩ trong những ngày gian khổ. Khi quân ta múc nước lên từ những cái hố trong rừng cao su để uống và nấu nướng, thì trời ơi, dưới tận đáy là những cái xác người, có lẽ là lính Bắc Việt bị đồng bọn quăng vội xuống đó trong lúc rút quân. Thành quả của Chiến Ðoàn 15 tuy khiêm nhường so với các đơn vị bạn vì thời gian đảm trách khá ngắn ngủi, nhưng chiến công này đã cho thấy sức chiến đấu quyết liệt của chiến sĩ Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, mà đã chia sẻ gánh nặng cuộc chiến tranh mùa hè với Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Nó củng cố niềm tin nơi quần chúng đối với quân đội, bằng chứng là sự trở về của Chiến Ðoàn từ chiến trường Bình Long ngày 24.6.1972 đã được dân chúng hai tỉnh Vĩnh Long và Sa Ðéc hân hoan đón tiếp thật vô cùng cảm động. Ðiều đó há chẳng phải là tình quân dân thắm thiết, là tấm lòng của người hậu phương trân trọng dành cho người lính ở tiền tuyến hay sao? Sư Ðoàn 9 Bộ Binh và Những Ngày Cuối Cùng Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc, vị Tư Lệnh cuối cùng của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh đã viết lại khoảng thời gian từ ngày ông được đề bạt về làm Tư Lệnh Sư Ðoàn cho đến ngày 30.4.1975 oan nghiệt. (Chuẩn Tướng Lạc đã ân cần gởi bài viết này đến cho công trình Thiên Hùng Ca Quân Lực VNCH, dù chỉ mới qua một đôi lần chúng tôi được ông vui vẻ tiếp chuyện. Nhờ đó, chúng ta biết được cuộc chiến đấu của những người lính Sư Ðoàn 9 Bộ Binh trong ngày cuối cùng như thế nào, để góp vào bức tranh chiến đấu hoành tráng chung của QLVNCH khúc anh hùng ca của những người chiến sĩ sông nước Miền Tây. Xin chân thành cảm ơn Chuẩn Tướng.) “Tôi, Huỳnh Văn Lạc, được chỉ định giữ chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, trực thuộc Quân Ðoàn IV Quân Lực VNCH từ tháng 10.1973, thay thế Thiếu Tướng Trần Bá Di trở về Quân Ðoàn IV nhận lãnh chức vụ Tư Lệnh Phó. Quân Ðoàn IV chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ vùng đồng bằng sông Cửu Long, còn được gọi là Vùng IV Chiến Thuật, bao gồm 16 tỉnh / Tiểu Khu nằm trong lãnh thổ Tiền Giang và Hậu Giang. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh được thành lập tại tỉnh Quảng Ngãi (miền Trung VN) vào những năm 1955 - 1956, sau đó được đưa vào Nam hoạt động tại Tây Ninh, khu vực nằm sát biên giới Cam Bốt; và rồi được dờisâu xuống phía Nam, Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đặt tai Sa Ðéc. Giữa năm 1972, Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn một lần nữa được dời về cạnh sân bay Vĩnh Long, nơi trước đó là căn cứ hành quân dành cho một Ðại Ðội Trực Thăng Vận của Quân Ðội Huê Kỳ. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh thường được sử dụng như là đơn vị trừ bị của Quân Ðoàn IV và cũng là đơn vị TổngTrừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, vì vậy thường không được chỉ định Khu Chiến Thuật cố định đểhoạt đô.ng. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh tuy cũng có ba trung đoàn bộ binh cơ hữu, nhưng không thường hoạt động hành quân cùng một lúc, thường thì phải xé lẻ một hoặc hai trung đoàn để tăng phái hành quân cho Sư Ðoàn 7 Bộ Binh ở Khu Chiến Tiền Giang, hoặc cho Sư Ðoàn 21 Bộ Binh ở Khu Chiến Hậu Giang. Trước ngày tôi đáo nhậm Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, sư đoàn này đã tham gia mặt trận Cam Bốt, giải tỏa khu vực Ðông Nam Phnom Penh khỏi áp lực của Khmer Ðỏ. Trung Ðoàn 15 Bộ Binh do Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy cũngđã được điều động tăng phái cho mặt trận An Lộc cạnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Sau ngày 30.4.1975, Ðại Tá Cẩn bị VC xử tử trong chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện (Nam Cần Thơ) tại sân vận động Cần Thơ. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh cũng đã tham gia giải tỏa áp lực địch hăm dọa xâm nhập khu Thất Sơn (Châu Ðốc). Thời gian đáo nhậm Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, từ tháng 11.1973, tôi được trao phó nhiệm vụ hành quân bảo vệ an ninh biên giới giáp Cam Bốt, lãnh thổ có chiều dài hơn 300 cây số, từ Hà Tiên đến Mộc Hóa, ngăn chận Sư Ðoàn 1 Bắc Việt từ đất Cam Bốt xâm nhập khu vực Hà Tiên - Châu Ðốc nhằm chiếm cứ Rừng Tràm Trà Tiên và khuThất Sơn, thọc sâu xuống khu rừng U Minh - Mũi Cà Mau. Cùng lúc, Sư Ðoàn 9 Bộ Binh còn lãnh nhiệm vụ ngăn chận một lực lượng của Sư Ðoàn 5 Bắc Việt (gồm một trung đoàn và một đơn vị Ðặc Công) hăm dọa vượt biêngiới Cam Bốt (phía Ðông Bắc Mộc Hóa) tiến sâu xuốngphía Nam cắt đứt Quốc Lộ 4, huyết mạch giao thông tiếp tế lương thực thực phẩm cho Saigon và các tỉnh phíaBắc Saigon, và cũng là đường tiếp vận quân nhu, quân dụng cho Quân Ðoàn IV/ Quân Khu IV từ Căn Cứ Long Bình,Bắc Saigon. Ðã có nhiều trận chiến đẫm máu xảy ra trong khu vực Thất Sơn (Châu Ðốc), rừng tràm Trà Tiên(Hà Tiên), Bắc Hồng Ngự, mật khu Tràm Chim (Kiến Phong)và Long Khốt (Tây Bắc Mộc Hóa). Hầu hết các trận chiến đều xảy ra dọc biên giới Cam Bốt. Trong thời gian đó mãi cho đến ngày 30.4.1975 đã không có lãnh thổ nào, quận tỉnh nào rơi vào tay địch, ngoại trừ một vài đồn bót bị đánh phá, nhưng rồi được giải tỏa liền sau đó. Tháng 12.1974, do tình hình khẩn trương ở toàn lãnh thổ Miền Nam VN và áp lực nặng của địch dọc biên giới CamBốt, đặc biệt quận Hồng Ngự (Kiến Phong), quận LongKhốt và quận Tuyên Nhơn (Kiến Tường), Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV thâu hẹp lãnh thổ hoạt động hành quân củaSÐ9BB, tách rời Trung Ðoàn 16 dưới quyền chỉ huy củaTrung Tá Nguyễn Văn Hải tăng phái cho Sư Ðoàn 21 Bộ Binh,hoạt động trong khu vực Hà Tiên - Châu Ðốc. Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh cùng với Trung Ðoàn 14 do Ðại Tá Lê Văn Năm chỉ huy và Trung Ðoàn 15 doTrung Tá Diêu Hữu Khiêu chỉ huy, Thiết Ðoàn 2 Kỵ Binh cơ hữu của Sư Ðoàn, 2 Thiết Ðoàn Kỵ Binh và Bộ Tư Lệnh Lữ Ðoàn 4 Kỵ Binh cơ hữu của Quân Ðoàn tăng phái, 4 Pháo Ðội 105 ly, 2 Pháo Ðội 155 ly. Tất cả những đơn vị này được điều động khẩn cấp đến lãnh thổ tỉnh Kiến Tường để kịp thời ngăn chận ý đồ của quân Bắc Việt định vượt biên giới Cam Bốt tiến chiếm quận lỵ Long Khốt, Mộc Hóa (tỉnh lỵ của KiếnTường) và quận lỵ Tuyên Nhơn (phía Ðông Mộc Hóa), sau đó thọc sâu xuống phía Nam cắt đứt Quốc Lộ 4. Nhờ điều quân kịp thời và sự quyết tâm chiến đấu của các đơn vị, Long Khốt, Tuyên Nhơn và tỉnh lỵ Mộc Hóa không bị đánh chiếm, mặc dù địch tấn công dữ dội, có thiết giáp và sơn pháo yểm trợ . Không ảnh của Mỹ cho thấy nhiều xác chiến xa của địch bỏ lại trận địa sát biên giới, nhất là tại chiến trường Long Khốt. Tại Mộc Hóa, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Ðoàn 9 Bộ Binh và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, pháo binh sơn pháo và hỏa tiễn của địch pháo kích thành nhiều đợt ngày đêm. Cũng nên biết là hai quận lỵ Long Khốt và Tuyên Nhơn, tỉnh lỵ Mộc Hóa nằm sát biên giới Cam Bốt không quá ba cây số, địa thế thuận lợi cho địch, vì không một chướng ngại vật thiên nhiên nào đáng kể. Ðến đầu tháng 3.1975, khi biết địch dồn chủ lực vào mặt trận Bắc Saigon và tình hình biên giới tỉnh Kiến Tường giáp Cam Bốt lắng dịu, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV ra lệnh để lại tăng phái cho Tiểu Khu Kiến Tường Trung Ðoàn 15 Bộ Binh, một Thiết Ðoàn Kỵ Binh cùng 2 Pháo Ðội 105 ly trấn giữ Mộc Hóa. Trung Ðoàn 14 Bộ Binh va ợcác đơn vị còn lại, cơ hữu của Sư Ðoàn cũng như tăng phái, di chuyển đến khu vực Mỹ Tho (Ðịnh Tường) cùng với Bộ Tư Lệnh Hành Quân SÐ9BB, để bảo vệ trục QuốcLộ 4, từ Ðồng Tâm đến Bắc tỉnh lỵ Tân An (Long An), cùng lúc bảo vệ phía Nam Saigon, từ Long An đến Gò Công. Bộ Tư Lệnh Hành Quân SÐ9BB đặt tại Mỹ Tho, nơi có Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Ðịnh Tường. Trung Ðoàn 16 Bộ Binh tư ợHà Tiên (Kiên Giang) được Quân Ðoàn điều động về Nam Vĩnh Long, đặt thuộc quyền chỉ huy của Ðại Tá Vinh, Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm bảo vệ Bắc Cần Thơ. Thời gian từ đầu tháng 3.1975 đến 30.4.1975, các đơn vị trực thuộc Sư Ðoàn 9 Bộ Binh tại khu vực Mỹ Tho hầu như chạm súng hàng ngày với địch hăm dọa tràn qua QuốcLộ 4, tiến thẳng về hướng Bắc Gò Công, bọc hậu phía Nam Saigon, tuyến từ Long An đến Gò Công. Ngày 30.4.1975 lúc 5 giờ sáng, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV tại Cần Thơ chỉ thị tôi khẩn điều động một lực lượng đến cầu Bến Lức (NamSaigon) đón Tổng Thống và thành phần nội các chính phủ VNCH di chuyển về Cần Thơ, cho biết đây là lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi xin cho tôi tối thiểu một tiếng đồng hồ để kịp thời tổ chức và điều động. Ðến 6 giờ sáng, lực lượng tiếp đón gồm có Trung Ðoàn 14 Bộ Binh, hai Thiết Ðoàn Kỵ Binh và hai Pháo Ðội 105 ly đặt thuộc quyền chỉ huy của Ðại Tá Lê Văn Năm, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 14 Bộ Binh. Xuất phát từ Mỹ Tho, dọc đường tiến quân có chạm súng với địch ở khu vực Bắc Long An, một số thiết giáp xa của địch bị bắn cháy. Cũng nên biết là kế hoạch hành quân tiếp đón có dự tính cho đánh mìn sập cầu Tân An trên Quốc Lộ 4, khi chính phủ đã an toàn về đến thị trấn Tân An. Khoảng 8 giờ sáng, khi lực lượng tiếp đón tiến quân đến gần cầu Bến Lức, thì Tư Lệnh Quân Ðoàn IV cho lệnh ngừng tiến quân và rút lực lượng về lại Mỹ Tho. Thiếu Tướng Nam cho biết chính phủ đã đổi ý, không di chuyển về Cần Thơ nữạ. Ðến 9 giờ sáng thì Tướng Dương Văn Minh, qua Ðài Phát Thanh Sài Sòn, chỉ thị cho tất cả các đơn vị Quân Lực VNCH ngưng chiến đấu, chờ đợi bàn giao vũ khí cho địch. Phấn khởi và hy vọng chỉ được có mấy tiếng đồng hồ khi biết chính phủ muốn di tản về Cần Thơ. Bây giờ thì ngỡ ngàng và uất hận vì bị phản bội! Mặc dù có lệnh ngưng chiến đấu, tiếng súng tại các vị trí dã chiến của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh vẫn nổ mãi cho đến nửa đêm ngày 30.4.1975. Pháo Binh Sư Ðoàn tại Căn Cứ Chợ Gạo, Mỹ Tho, vẫn bắn. Khoảng 8 giờ tối ngày 30.4.1975, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, Tư Lệnh của tôi, mà cũng là bạn thân cùng Khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, chúng tôi rất tương đắc trong cung cách sinh hoạt và làm việc, gọi điện thoại cho tôi. Tôi không nhớ nguyên văn lời nói của ông, nhưng qua điện thoại tôi biết ông xúc động lắm, vì có lúc tiếng nói của ông gián đoạn. Ðại ý ông nói: “Chúng ta đã mất hết rồi! Không còn gì nữa!”. Có thể lúc đó ông muốn nói: Mất Nước! Mất Miền Nam! Mất chính quyền Quốc Gia! Và ông nói tiếp là để chúng tôi (cácTư Lệnh) tùy nghi xử sự. Khoảng 11 giờ khuya cùng ngày, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tại Ðồng Tâm cũng gọi điện thoại cho tôi, chia sẻ nỗi niềm tủi nhục và nói lời từ giã. Lúc đó tôi chưa hiểu kịp lời từ giã đó có ý nghĩa như thế nào. Mãi đến vài giờ sau tôi mới hiểu được ý nghĩa những lời nói cuối cùng của hai vị Tư Lệnh anh hùng đáng kính phục này! Hai vị đã tự tử bằng súng bắn vào đầu(Thiếu Tướng Nam) và uống thuốc độc (Chuẩn Tướng Hai). Quả là hai vị “VÕ TÁNH” của thời đại VNCH! Khi được tin hai người bạn thân cùng chung chí hướng đã ra đi, tôi bàng hoàng đến độ quẫn trí, muốn hành động tương tự! Tôi có ý định qua bên kia đường, nơi có Tòa Giám Mục Công Giáo Mỹ Tho, đối diện Bộ Tư Lệnh Hành Quân của tôi để xin phép, vì tôi là người Công giáo. Trong giây phút trấn tĩnh, tôi nhận định là dù Giám Mục cũng không có quyền cho phép hành động như vậy! Tôi đành xin vâng, “Fiat”! Ðến khoảng 3 giờ sáng ngày 1.5.1975, thấy không còn gì để hy vọng, bạn bè đã vĩnh biệt ra đi, tình hình vô phương cứu vãn, tôi buộc lòng phải để cho các đơn vị tự giải tán, tránh nhục nhã giáp mặt bàn giao cho địch theo như lệnh của Dương Văn Minh. Những tháng năm dài sau đó là trại tù trong Nam, rồi ra Bắc, là lao động khổ sai, là đói rét, nhục nhã và uất hận cùng với hơn 30 tướng lãnh, trong đó có tôi, và sĩ quan các cấp, hầu hết còn ở lại chiến trường với anh em binh sĩ vào những giờ phút cuối cùngcủa cuộc chiến!“ Ai phản bội quốc gia VNCH? Ai phản bội Quân Lực VNCH? Ðoan chắc không phải là Quân Lực VNCH tự phản bội chính mình và phản bội quốc gia VNCH! Xin lịch sử công minh, xin những vị học giả uyên thâm và thành tâm thiện ý minh xét, gạt bỏ thành kiến và thiên vị để giải tỏa nỗi niềm uất hận cho những người chiến sĩ đã sống và chết cho chính nghĩa “Một Quốc Gia Ðộc Lập, Tự Do, DânChủ - Không CS”. Phạm Phong Dinh |
|