

|
Nguyễn Châu Ảnh tượng con trâu đã xuất hiện khá nhiều trong ca dao, tục ngữ, thơ và văn xuôi. Trâu đã trở thành một đề tài phong phú khi người ta viết về nông thôn Việt Nam. Ðối với nông dân Việt Nam, trâu là một phương tiện hàng đầu. Có trâu rồi mới có thể gây dựng cuộc đời. Do đó, “tậu trâu” trở thành vấn đề trọng đại nhất:“Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà Trong ba việc ấy lọ là khó thay.” Bởi vì “Con trâu là đầu cơ nghiệp” cho nên ngày xưa trâu được xem như một tiêu chuẩn để đánh giá giàu, nghèo trong xã hội nông nghiệp. “Ruộng sâu, trâu nái” là câu để chỉ người khá giả trong làng, xóm. Một chàng nông dân đã khoe với người đẹp về gia thế như sau: “Nhà anh chín đụn, mười trâu Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân.” Cơ nghiệp của nhà nông xưa nhờ vào sức lực của trâu, vì vậy việc tậu trâu (tức mua trâu) đòi hỏi sự cẩn trọng. Nếu mua lầm trâu xấu, kém khả năng cày kéo thì có nguy cơ thất bại trong sản xuất. Tục ngữ có những câu dành cho việc chọn trâu: - Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi. - Mua trâu lựa nái, mua gái chọn dòng. - Trâu hoa tai, bò gai sừng. - Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày. - Ðầu thanh, cao tiền, thấp hậu, chẳng tậu thì sao? - Cày trâu loạn, bán trâu đồ. Tóm lại, nông dân Việt Nam đã tích luỹ được một số kinh nghiệm về tướng mạo của trâu để tiện việc lựa chọn trâu thích hợp với nông vụ. Người hướng dẫn mua trâu thường xem khoang, xem khoáy trâu rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, còn có nhiều câu mượn trâu để nói về sinh hoạt và tâm tính của người, chẳng hạn: - Trâu tìm cọc, chứ cọc không tìm trâu. - Trâu chậm uống nước đục. - Trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa. - Gái mười bẩy, bẻ gãy sừng trâu, trai mười bẩy đâm thâu cột nhà. - Ăn thuốc bán trâu, ăn trầu bán ruộng. - Trâu quá xá, mạ quá thì. - Muốn làm giầu thì nuôi trâu nái, muốn lụn bại thì nuôi bồ câu. - Buộc trâu đâu, nát rào đấy. - Trâu gay cũng tầy bò giống. - Trâu he cũng bằng bò khoẻ. - Ðầu trâu mặt ngựa. - Lộn con toán, bán con trâu. - Lạc đường theo chó, lạc ngõ theo trâu. - Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy. - Nước giữa dòng, chê trong chê đục, Vũng trâu đầm hì hục khen ngon. - Sáng tai họ, điếc tai cày. Có lẽ vì trâu đã một thời có mặt thường trực trong các gia đình nông dân, trên những thửa ruộng, những con đường làng, trong các ao đầm hoặc trong các dòng sông quê hương Việt Nam, nên đối với hầu hết người Việt Nam, hình ảnh con trâu bên luỹ tre đã trở thành biểu tượng thân thương của quê hương. Bài ca dao được biết đến nhiều nhất có lẽ là bài “tâm tình” của nông dân với trâu, sau đây: “Trâu ơi, ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta. Cấy cày vốn nghiệp nông gia, Ta đây, trâu đó, ai mà quản công. Bao giờ cây lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.” Mối tương quan thân thiết này đã làm cho trâu trở thành một phần tử của gia đình nông dân, cùng chung sức làm lụng bên nhau: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.” Về thơ, thì bài liên quan đến trâu được in vào sách Quốc Văn giáo khoa, tiểu học, bài “Em Bé Quê” được biết đến nhiều nhất và đã được Phạm Duy phổ nhạc: “Ai bảo chăn trâu là khổ Chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau Và miệng hát nghêu ngao Vui thú không quên học đâu. Nằm đồi non gió mát Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo Em đánh vần thật mau.” Theo Bàng Bá Lân trong Hương Hoa Ðất Nước thì bài Em Bé Quê như sau đây: “Ai bảo chăn trâu là khổ? Chăn trâu sướng lắm chứ! Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất-nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ...” Thơ xưa thì Lục Súc Tranh Công (tác giả khuyết danh) đã mở đầu bằng lời than thở của trâu (đã trích ở phần trên). Cụ Nguyễn Khuyến nhắc đến trâu tả buổi trưa hè: “Trâu già nấp bụi phì hơi nắng, Chó nhỏ ven ao sủa tiếng người.” Thơ hiện đại có những câu rất đẹp liên quan với ảnh tượng trâu: “Dưới gốc đa già, trong vũng bóng Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai...” Hoặc: “Khói chiều nhuốm bạc đầu cau Ðường quê thưa thớt tiếng trâu gọi đàn.” (Bàng Bá Lân - Chiều quê). Hoặc: “Ngõ tre lối cũ ta về Thăm cô yếm lụa hái chè trên nương. Người đi cây nhớ hoa vàng Ðàn trâu gặm nắng bên đàng quạnh hiu.” Trong bài “Tiếng Võng Ðưa” nông phu và trâu càng gắn bó hơn: “Gà thôn vừa gọi vừng đông Ta cùng trâu đã ra đồng cày chiêm Nước nhà bao lúc ngả nghiêng Nhà nông vẫn chẳng hề quên ruộng vườn.”( BBL) Trong bài “Con Trâu”, nhà thơ Phạm Ngọc Khuê đã hết lời ca ngợi sức mạnh và lợi ích mà trâu đã đem lại cho con người: “Nay là lúc đem sức trâu mãnh liệt Kéo lưỡi cày rạch vỡ hết ruộng nương Khơi mạch sống từ trong lòng đất chết Mở đường lên cho hạt thóc đang ươm Nay là lúc gặm cỏ khô rơm cứng Giẫm bùn lầy và chọi với nắng mưa Lấy chí ngang tàng và lòng quyết thắng Làm hơi rượu mạnh để say sưa...” Trâu là một thành viên quan trọng bậc nhất trong sản xuất nông nghiệp, vì trâu là một nguồn năng lực bền bỉ và hùng mạnh. Không có trâu, nông dân sẽ rơi vào cảnh khốn khó và vô cùng vất vả trong việc cày, bừa. Tác giả Tiếng Võng Ðưa (BBL) đã mô tả sự cùng khổ này trong bài thơ “Người trâu”. Ðây là cảnh tượng đã diễn ra vào thập niên 1950 tại miền Bắc Việt Nam:”... Trong thửa ruộng chân đê tràn ngập nước Ðôi bóng người đang chậm bước đi đi. Người đàn ông cúi rạp bước lầm lì, Người vợ cố đẩy bừa theo sát gót. Họ là những nông dân nghèo bậc chót, Không có trâu nên người phải làm trâu Họ bừa ngầm một thửa ruộng chiêm sâu Nước đến bụng, ôi rét càng thêm rét!...” Trong truyện Kiều có câu nhắc đến trâu với ý nghĩa hoá thân để đền ơn đáp nghĩa ở kiếp sau: “Bao nhiêu duyên nợ thề bồi Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì? Tái sinh chưa dứt hương thề Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.” (KVK câu 705-708) Thành ngữ “làm thân trâu ngựa” phát sinh từ thuyết Luân Hồi của Phật giáo, cho rằng người nào kiếp này mắc nợ ai mà chưa trả được, thì kiếp sau phải hoá thân thành trâu ngựa vào nhà người đó mà trả nợ. Sách Trung Hoa có câu “Thụ trái bất hoàn, tử hậu thác sinh vi ngưu mã” (Nợ không trả được, thì sau khi chết hoá sinh làm trâu ngựa kéo cày mà trả). Về văn xuôi có hai cuốn cùng nhan đề “Con trâu” (1940), cuốn xưa nhất của ông Trần Tiêu, một nhà giáo trong nhóm Tự Lực Văn Ðoàn, cuốn thứ hai của Nguyễn Văn Bỗng, quê Ðại Lộc - Quảng Nam, (1921-2001) nhà văn vùng Việt Minh), nội dung dùng đề tài con trâu và nông dân để tuyên truyền chống thực dân Pháp, xuất bản năm 1952. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét về Trần Tiêu như sau: “Nếu muốn tìm những việc oái oăm, những cơ mưu lắt léo trong Con trâu người ta sẽ không bao giờ thấy cả. Ở tập truyện này chỉ diễn ra rặt những việc rất thường trong luỹ tre xanh, những việc hàng ngày của dân quê Việt Nam”. Ðúng là cái tưởng như bình thường lại trở thành không bình thường vì số phận của nhân vật chính từ mơ ước đến chỗ mệt mỏi, mòn mỏi và chịu đựng cái chết. Con trâu, con vật quý của người nông dân ảnh hưởng khá trực tiếp đến cuộc sống của một gia đình nông dân. Nhìn những cảnh làng quê thiếu trâu bò, người phải kéo cày thay trâu càng thấy đau lòng. Cũng vì thế người nông dân chăm sóc, bảo vệ trâu như con vật thân thiết. Trong văn học Việt Nam thời hiện đại hình bóng con trâu cũng đi vào nhiều tác phẩm như Con trâu của Nguyễn Văn Bổng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Con trâu hai nhà của Trần Bảng trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp. Dù ở giai đoạn nào thì đó cũng là vốn quý mà người nông dân nghèo trước đây không dám mơ ước. Hiện nay, có một tác phẩm viết về trâu bằng Pháp văn của tác giả Nguyễn Nga, nhan đề “Le buffle et le grain de riz”. (Con trâu và hạt lúa). Có một vài chuyện cổ tích liên quan đến trâu, nhưng ý nghĩa rất nhạt nhẽo, không lý thú. Chẳng hạn, chuyện Trâu và Ngựa. “Ngày xưa, trâu có hai hàm răng, ngựa chỉ có một hàm. Một hôm trâu được mời đi ăn giỗ. Lúc về trâu khoe với ngựa là nhờ có hai hàm răng nên đã ăn được một bữa thoả thích. Ðến lượt ngựa được mời đi ăn giỗ, ngựa bèn đến bảo trâu cho mượn một hàm răng để chén một bữa cho sướng miệng. Trâu vốn tốt bụng, gỡ răng ra cho ngựa mượn. Ngựa đi ăn giỗ về, không muốn trả răng lại cho trâu. Trâu tới đòi, ngựa liền bảo: “Hàm răng của mày tao để ở cuối đường kia, bây giờ mày với tao chạy thi, ai đến trước lấy được thì làm chủ hàm răng ấy.” Trâu vốn thật thà, không biết làm thế nào, đành nhận lời chạy thi với ngựa. Nhưng trâu nặng nề chậm chạp, nên rốt cuộc đã thua ngựa và mất hàm răng.” (Việt Nam Văn Học Toàn Thư, tr. 128). Chuyện Con Trâu và Con Cọp hay “Cái Trí Khôn”. Chuyện kể rằng, một hôm cọp về đồng bằng, núp trong lùm cây theo dõi con trâu đang cày ruộng. Thấy trâu luôn luôn ngoan ngoãn tuân theo lời một con vật nhỏ bé, yếu ớt chỉ có hai chân. Ðến giờ nghỉ, người chủ đi ăn trưa, trâu ở một mình gặm cỏ ven bờ ruộng, cọp liền đến hỏi chuyện “Sao mày to lớn, mạnh mẽ như thế mà lại để cho một con vật nhỏ bé điều khiển, hành hạ như vậy?” Trâu đáp: “Tao nghe lời nó vì nó có cái trí khôn”. Cọp hỏi cái trí khôn là gì? Trâu nói hãy chờ chủ tao đến mà hỏi. Khi người chủ trở về, cọp hỏi “Cái trí khôn của mày đâu?” Người chủ đáp “Cái trí khôn tao để ở nhà, mày muốn coi tao sẽ về lấy cho.” Cọp đồng ý. Nhưng người chủ nói, mày ở đây với trâu của tao, sợ mày ăn mất trâu, vậy nếu mày bằng lòng để tao buộc mày lại rồi mới về nhà lấy trí khôn.” Vì tò mò muốn biết, nên cọp đồng ý. Trói xong trói cọp vào một cây cột, người nông dân liền đi lấy đùi gỗ đến, nói trí khôn của tao đây này. Vừa nói vừa đánh vào thân thể cọp. Cọp mắc mưu bị đánh khắp mình, rớm máu từng vạch. Ðánh xong người chủ thả cọp trả về rừng bảo là không được trở lại phá hoại đồng bằng nữa. Các vằn đen trên da cọp là vết tích của những lằn roi xưa. Truyện Ngưu Lang - Chức Nữ cũng được dân gian Việt Nam kể cho nhau nghe, được dựng thành kịch, phim vân vân, nhưng nó không liên quan trực tiếp đến trâu, chỉ nói đến mối tình giữa chàng chăn trâu (Ngưu lang) và cô nàng dệt vải (Chức nữ) mà thôi. Ngưu lang - Chức nữ là huyền thoại gốc Trung Hoa, nhằm giải thích hiện tượng mưa ngâu tháng bẩy và sự kiện những con quạ sói đầu vào mùa thu. MỘT VÀI TỪ NGỮ LIÊN QUAN ÐẾN TRÂU Trâu cũng đã đi vào ngôn ngữ Việt với một số thuật ngữ và thành ngữ. - Ðàn gảy tai trâu (ý nói việc giảng giải, thuyết phục vô ích vì người nghe không đủ khả năng để lãnh hội, tiếp nhận). - Làm như trâu (ý nói cần cù và lao nhọc). - Hoa nhài cắm bãi cứt trâu (tình duyên không được vào nơi xứng đáng). - Trâu chó (chỉ người thô lỗ, không biết suy nghĩ). - Mài sừng cho lắm cũng là trâu (ý nói dù cố gắng bao nhiêu cũng không thể thay đổi được thân phận, địa vị). - Trâu buộc ghét trâu ăn (chỉ sự ganh tị giữa người bị bó tay và người được hưởng thụ). - Len trâu (len: tiếng gốc Khmer, có nghĩa “đi tự do” - len trâu là dẫn trâu đi tự do theo đàn. Ở miền Nam Việt Nam, vào mùa mưa lụt, người ta phải thuê người dẫn trâu đi tìm các đồng cỏ ở các nơi cao để nuôi, có khi thời gian len trâu này kéo dài nhiều tháng và đi rất xa (vào vùng Bảy Núi chẳng hạn). - Ốc trâu (hiện tượng xảy ra khi khuấy hồ bằng bột nhưng không khéo, khiến cho nổi lên những nụ ốc). - Cụ Trâu: chỉ người thô kệch, không biết phép xã giao (thổ ngữ Huế) Một vài địa danh liên quan đến trâu: - Bến Nghé (tên cũ của Saigon). - Trâu Quỳ (Gia Lâm - Hà Nội). - Lò Trâu (gần Vĩ Dạ - Huế). - Dốc Trâu Té (chi khu Cỏ Ông). - Thành phố Buffalo (gần Thác Niagara - New York - Hoa Kỳ). TRÂU VÀ PHẬT GIÁO Trong Phật giáo, phái Thiền Tông lấy hình tượng TRÂU để nói về phương pháp tu tập. Con Trâu hoang dã tượng trưng cho TÂM. Người tu tập giống như người chăn trâu, do đó, Thiền Tông đã trình bày các giai đoạn tu tập bằng 10 bức tranh “Chăn Trâu” ghi chú bằng Hán Văn gọi là THẬP MỤC NGƯU ÐỒ. Xin sơ lược sau đây để độc giả có một khái niệm tổng quát. Có thể nói, đề tài chung của các bức tranh chăn trâu của Thiền Tông là đường lối tu tập. Ðường lối tuy nhiều, song không ngoài việc tìm và bắt tâm. Kinh Kim Cương có câu: “Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (Hỏi rằng làm sao làm chủ được cái tâm?). Do đó, tập 10 bức tranh “mục ngưu đồ” có thể coi như là lời giải đáp cho câu hỏi trên đây. Khởi đầu, Tâm là con trâu hoang. Vì có trâu nên có người chăn (mục đồng). Bởi có Tâm nên có Cảnh. Tất cả mọi nỗ lực của Phật giáo Ðại thừa đều nhằm vào sự “cột” trâu, tức là “điều tâm”. Tâm là con trâu hoang. Muốn trị nó thường phải dùng những biện pháp mạnh, như đánh bằng roi, xỏ mũi bằng dây gai, dây thừng v.v... một cách tương tự, muốn trị tâm, cần quy y, giữ giới cấm, phát tâm bồ đề v.v.... Ðó là bước đầu, diễn tả trong năm bức hoạ: “1. vị mục, 2. sơ điều, 3. thọ chế , 4. hồi thủ và 5. tuần phục”.1- Vị mục: chưa chăn (trâu còn hoang dã, chú mục đồng đi tìm Trâu). 2- Sơ điều: mới chăn (thấy dấu vết trâu). 3- Thọ chế: chịu phép (thấy được trâu). 4- Hồi thủ: quay đầu (bắt được trâu). 5- Tuần phục: vâng chịu (Trâu chịu di theo mục đồng). 6- Vô ngại: không ngại ... (Cỡi lưng trâu đi về nhà - Tâm đã thuần phục, không cần chăn giữ - Tâm định, hết chấp ngã, tuy nhiên vẫn còn chấp pháp). 7- Nhiệm vận: tha hồ (quên rằng mình ngồi trên lưng trâu - huệ giác đến chỗ Tâm vô Tâm - Ngưu vô tâm, ngưu diệc vô tâm). 8- Tương vong: cùng quên (không còn ý niệm nào về mình về trâu nữa - “Tâm cảnh song vong nải thị chơn pháp”: Tâm và cảnh cùng mất tức là pháp đích thực). 9- Ðộc chiếu: soi riêng (đến cảnh giới của Bồ Tát). 10- Song dẫn: dứt cả hai (chỉ còn vòng tròn trống không, đó là vô ngôn và Viên Giác). “Thập mục ngưu đồ” còn được đặt tên theo thứ tự như sau: Tầm ngưu: tìm trâu Kiến tích: thấy dấu Kiến ngưu: thấy trâu Ðắc ngưu: được trâu Mục ngưu: chăn trâu Kỵ ngưu quy gia: cỡi trâu về nhà Vong ngưu tồn nhơn: quên trâu còn người Nhơn ngưu câu vong: người trâu đều quên (vẽ vòng tròn) Phản bổn hoàn nguyên: trở về nguồn cội Nhập triền thùy thủ: thõng tay vào chợ Sau các giai đoạn của GIỚI, ÐỊNH phát sanh trong giai đoạn tiếp theo. Lâu ngày chầy tháng, trâu trở nên thuần thục, tâm trở nên điều hoà. Trong giai đoạn này, tâm đã tuần phục, khỏi phải chăn giữ. Tâm đã định, không gặp gì chướng ngại. Tâm định là ngã chấp hết, song vẫn còn pháp chấp. Ðây là bước tu chứng của hàng tiểu Thừa (thanh văn và duyên giác) diễn đạt bằng hai bức hoạ “vô ngại” và “nhiệm vận”. Cần đi thêm bức nữa để khai mở HUỆ giác đến chỗ TÂM vô TÂM: “Nhơn vô tâm, ngưu diệc vô tâm”. Ðến giai đoạn này mới phá được Pháp Chấp: Pháp cũng không, Ngã cũng không. Trâu mất mà người cũng chẳng còn, cảnh bị quên rồi tâm cũng quên. Ði thêm bước nữa là cảnh giới như lai: vô ngôn, vô niệm, tất cả đều không. Tóm lại, “Thập mục ngưu đồ” vẽ lại quá trình công phu của người tu tập theo Phật, trước hết tự thắng bản năng mình, sau đến tự tri, cuối cùng đến tự tại. Tranh Thiền Tông có loại vẽ trâu đen, có loại vẽ trâu trắng. Trâu trắng là ý nói “bạch ngưu xa”, xe trâu trắng, tức là Phật thừa. Ðạo Phật có ba thừa - tức ba cỗ xe - là xe dê, xe nai và xe trâu (thường) chở các hàng thanh văn, duyên giác và bồ tát ra khỏi nhà lửa mà thành đạo. Tuy nhiên, ba thừa chỉ là phương tiện giả lập lên để trợ giáo, đó là những tượng trưng, những pháp môn có tính cách tiếp dẫn, dùng cho người kém khí lực. Ðối với hạng thượng căn chỉ một thừa thôi - Phật thừa - trực tiếp đưa người vào cảnh giới Phật thừa là “bạch ngưu xa”. Bạch ngưu xa, chính là cái tâm đại giác viên mãn của Phật Thiền Tông chủ trương trực tiếp thành Phật là vậy. Tuy nhiên, lý thuyết là lý thuyết, loại tranh vẽ trâu trắng vẫn hiếm hoi, ít được thưởng thức bằng loại tranh vẽ trâu đen, rắn rỏi, mộc mạc, gần cuộc sống hơn. Khi mới bắt đầu tu thì dựa vào hình tượng phương tiện, nhưng khi đã thuần thành thì phải rời bỏ phương tiện. Hầu hết các pháp môn khác, vấn đề đặt ra cho Thiền vẫn là sự “hàng phục kỳ tâm”. Tâm của Ðại Thừa là ngã tướng. Ðến Thiền thì cái ngã được thâu hẹp thành cái niệm. Niệm là ý nghĩ, tư duy, là kiến văn, được coi là phần tử chính yếu của cái “tôi”. Do đó Thiền dạy vô niệm, dạy cắt đứt suy tư, bất cứ suy tư gì... Pháp Bảo Ðàn Kinh viết: Vô niệm: niệm tức chánh. Hữu niệm: niệm thành tà. Vì vậy, Thiền hoàn toàn kỵ lý luận, không giảng dạy, thường chỉ ngậm miệng quên lời, thảng có nói thì thường chỉ nói bằng lối phi lý luận. Trong quá trình tiến triển của đạo Phật, Thiền quả là nhát búa cuối cùng của Ðại Thừa đập vào trí thông minh mà loài người thường tự hào. Trong hệ thống các pháp môn, Thiền là đốn giáo, chủ trương thấy được tánh là tức khắc thành Phật, tại đây và ngay ở phút giây này. Một Số Dược Phẩm Ðông Y Có Chữ Ngưu (Trâu): - Ngưu Tất, tục gọi là cỏ Sướt, bổ gân cốt, bổ dương tinh; chữa bại liệt, điều huyết, trừ sốt rét kinh niên. - Ngưu Hoàng: vị đắng, đại trị phong đàm, an hồn định phách, kinh giật linh đơn. - Khiên Ngưu tử, tức hột Bìm Bìm, tác dụng lợi tiểu, thông quan, long đờm, sát trùng. - Thiên Ngưu, thường gọi là con Xén Tóc, có tác dụng trừ ngược phong, thấp kinh ở trẻ con, hút mụn đinh. - Ngưu Bàng tử, (còn có tên Ðại lực, Thử niêm đang) chữa ban chẩn, yết hầu. - Oa Ngưu, tục gọi là con Sên, trị phong tà méo lệch miệng, thần kinh co rút, chữa vết sưng do rết cắn. - Thuỷ Ngưu nhục, tức là thịt Trâu, hoà tỳ, bổ thận và gân cốt, chữa phong, thuỷ thũng. - Hoàng Ngưu nhục, là thịt Bò, ấm tỳ, tăng khí, mạnh chân và lưng, giải khát sinh nước bọt, làm cổ hết khô. - Ngưu Giác, tức là sừng trâu, chữa thương hàn, nhiệt độc, sa lâm huyết, đờm thũng, họng tê đau. - Ngưu Giác Tai, là cái nỏ sừng trâu, chữa băng lậu, trường phong đới hạ, trưng hà, lỵ, đau bụng. NGUYỄN CHÂU (sưu khảo) |
|