

|
Phạm Phong Dinh Chiếc trực thăng nặng nhọc bốc lên, nó lảo đảo như một con chuồn chuồn bị cắt cánh, hai cái càng là đà, vất vả lướt trên đầu những ngọn cây thùy dương. Không thể gọi là bay nữa, mà là lết trên không khí. Nhưng dù sao thì con tàu cũng đã đem được ngần ấy con người ra khỏi chốn chết chóc. Vinh cảm khái nhìn xuống nóc Vương Cung Thánh Ðường La Vang. Ở dưới đó, vẫn còn bức Tượng Ðức Mẹ Maria đứng lẻ loi giữa cơn lửa đỏ của chiến tranh. Nhưng Vinh biết chắc, cuộc ra đi chỉ là một tạm biệt, rồi bọn chàng cũng sẽ trở lại một ngày nào đó, mà chàng tin rằng không xa lắm đâu. Chàng đã khấu đầu rất lâu trước Ðức Mẹ La Vang, thề với ngài rằng bọn chàng sẽ trở lại. Bất giác Vinh cúi xuống nhìn người nữ tu trẻ. Nàng đang nằm thiêm thiếp trong cơn nóng sốt. Hai viên thuốc hồi đêm chưa đủ liều lượng để đem nàng trở lại với cuộc sống thế gian, nếu Ðức Mẹ không dun rủi Hên đem chiếc máy đến với chàng. Dì phước khẽ cựa mình rên rỉ, nàng đưa lưỡi liếm đôi môi khô nứt đòi nước. Vinh nhúng ngón tay sâu vào trong chiếc bi đông đựng nước thánh rồi áp lên đầu lưỡi của nàng. Ðược một lúc, dì phước yếu ớt hé mắt nhìn người lính với vẻ biết ơn. Dưới ánh sáng của mặt trời và trong giây phút nhàn nhã này, Vinh đã có thể ghi nhận khuôn mặt của người nữ tu vào ký ức của chàng. Ðôi mắt to đen, chiếc mũi thon dài và đôi môi nhỏ mềm làm cho toàn bộ khuôn mặt của nàng hãy còn đậm nét ngây thơ trong trắng của tuổi xuân thì. Nàng nằm thiêm thiếp trong một tư thế thánh thiện quá, xa vời quá trong chiếc áo nữ tu, như là một thiên thần không thuộc về thế giới trần ai... Chiếc trực thăng đáp xuống bên lề quốc lộ. Nó đã cố gắng bò ra được tới nơi này. Ðến đây thì chuyến bay của những người lính đã chấm dứt, họ phải nhảy xuống tiếp tục cuộc di tản trần thân. William nắm chặt tay bạn rưng rưng: - Vinh, tôi sẽ tìm lại anh... Vinh gục gặc đầu mĩm cười : - Mình sẽ còn gặp nhau mà, nếu tôi không chết trong cuộc chiến tranh này. Người nữ tu trong cơn mê man, nào đâu biết người lính mà nàng chưa kịp nói lời cảm ơn và giã biệt, đã cùng với mấy người lính của chàng mất hút vào dòng người cuồn cuộn chảy trên mặt quốc lộ xuôi về phương Nam. Mắt đẫm đầy lệ, William chống tay nhỏm dậy dõi mắt nhìn theo cái dáng gầy gò của người lính, mà chàng dám chắc rằng quân đội ấy đã sản sinh ra rất nhiều, rất nhiều, không thể đếm hết những người lính cao cả ngoại hạng giống như Trung Úy Vinh. Con tàu đã cất lên cao dần mà William vẫn cố nhìn mãi, cho đến khi chàng chỉ còn thấy chiếc cần ăng ten chiếc máy truyền tin của Hên nhú lên trong khối người hỗn độn trên đường. Ðó là hình ảnh cuối cùng mà William còn lưu giữ được trong trí nhớ của chàng. William không còn bao giờ gặp lại những người bạn Việt Nam ấy nữa... oOo Sơ Theresa Trinh lặng lẽ quỳ dưới chân tượng Ðức Mẹ Maria La Vang, nàng cúi đầu, chiếc cằm gần chạm vào hai bàn tay đang thành kính chắp trên ngực. Ðêm đã khuya lắm, không gian tịch mịch đắm trong tiếng côn trùng rỉ rả, mà sơ vẫn còn quỳ bất động như một bức tượng đá. Ánh sáng mờ của cây đèn dầu đặt trên bàn thờ hắt lên hai bức tượng người, một sống và một vô tri rất giống như một khối hào quang ngũ sắc, tạo nên thành một tác phẩm điêu khắc kỳ ảo và thánh thiêng. Mẹ Bề Trên và vài người sơ khác đã lùi vào phòng tĩnh tâm từ lâu rồi. Nói là phòng, nhưng thực sự chỉ là những cái mái lá che tạm những căn phòng đã đổ nát trong cơn chiến tranh. Bây giờ đã là thời điểm của hòa bình, một thứ hòa bình cay đắng mà người ta phải cắn răng thụ nhận, vì chẳng còn một chọn lựa nào tốt hơn. Còn có gì quí giá hơn hòa bình nữa. Thế nhưng mà sao vẫn có nhiều nước mắt, nhiều chia lìa và, trời ơi, máu vẫn âm thầm tuôn chảy, cuồn cuộn như những con sông, ở những nơi chốn tối tăm nào đó mà những người ở ngoài cõi sáng không bao giờ được quyền biết. Những người nữ tu hiền lành đã tìm về với Ðức Mẹ La Vang để u sầu thảng thốt nhìn đống ngổn ngang hoang tàn. Không còn cái gì có thể sử dụng được nữa, ngoài những bức tường lụn bại nham nhở bốn bề gió thổi ù ù. Vất vả hàng tháng trời, Mẹ Bề Trên và vài dì phước mới dọn dẹp được gọi là tạm tươm tất cho ngôi thánh đường. Những ghế nguyện được những bàn tay tu sĩ vụng về chắp vá trong những hình thù xiêu vẹo đến mủi lòng. Những căn phòng tĩnh mịch của ngày xưa, giờ chỉ là những cái ô trống ban ngày nhìn trời trong, ban đêm ngắm sao trên trời. Lại phải vào chân núi cắt tranh về làm mái tạm che mưa nắng. Một số giáo dân ở mãi tận bên kia Ðèo Hải Vân lục tục trở về thôn xưa, đã đến tiếp giúp. Nhà thờ nghèo quá không có gì khoản đãi, chỉ có mấy dĩa khoai mì luộc đơn sơ đến não lòng, người có tấm lòng nuốt làm sao vô. Họ biết, nếu họ ăn số thực phẩm đó, thì có lẽ Mẹ Bề Trên và các sơ phải nhịn đói cho ngày ấy. Nên ai cũng vỗ bụng nói là mình no để thoái thác không ăn. Chứ thực tình thì ai cũng đói cả. Những luống khoai mì trồng vội trên sân sau, còi cọc, cháy úa và ngã nghiêng oặt èo theo từng cơn gió mạnh. Ðến khoai mì mà còn không sống nổi trên những giồng cát, thì còn nói gì đến những hoa màu khác. Ðêm nay, bỗng dưng một nỗi xốn xang dị kỳ dậy lên trong lòng sơ, chầm chậm, từ từ như những con sóng tít ngoài khơi xa, rồi ào ạt dâng cao lên như những đợt sóng thần và tràn nhanh đập vào trái tim bấn loạn của người nữ tu. Lạ chưa kìa. Sơ Theresa Trinh gục đầu lắng nghe từ đáy lòng mình vọng lên một tiếng gọi mơ hồ, lãng đãng như từ một nơi nào xa xôi lắm. Hay đó chỉ là tiếng gió hú trên những đồi sim từ dãy núi chập chùng mịt mù sau những cánh rừng bạt ngàn trong kia. Dù là tiếng gió rít hay gì gì đi nữa, thì nó vẫn là một cái gì đó thật dị kỳ cuốn xoáy sơ vào một con lốc ão não. Bỗng sơ Theresa giật mình ngẩng đầu lên. Nàng vừa mới nghe một tiếng động nhẹ từ phía cánh cửa vào thánh đường. Và tiếng bước chân của ai đang lướt trên lối nhỏ giữa hai hàng ghế nguyện. Sơ rùng mình, chậm rãi quay người lại nhìn, suýt nữa đã thảng thốt kêu lên. Trời ơi, sơ trông thấy một bóng người, hay bóng ma, trong một hình hài gầy guộc, được bao phủ bằng một mớ giẻ rách gọi là quần áo. Một người đàn ông lặng lẽ đứng nhìn sơ bằng đôi mắt u uất. Sơ Theresa đưa tay lên ôm miệng để khỏi bật thành tiếng đau thương. Khuôn mặt anh đầm đìa những máu, những giọt máu nhỏ ròng ròng xuống đất. Nhưng tất cả những linh ảnh ma quái gớm ghê đó không làm cho sơ Theresa sợ tê điếng và bàng hoàng cho bằng điều mà nàng đã nhận ra. Sơ có nhìn lầm không. Nàng đã trông thấy anh... lính, người đã băng bó cho nàng trong cái đêm hãi hùng giữa cơn lửa đỏ đó. Anh lính..., chàng đã bồng nàng chạy dưới cơn gió giật của cánh quạt, đặt nàng nằm lên sàn con tàu. Sơ làm sao quên được đôi mắt héo úa nhưng đầy ánh từ ái của chàng lần cuối cùng. oOo Khi sơ Theresa tỉnh dậy trong một bệnh viện nào đó ở Huế, có lẽ là quân y viện của người Mỹ, thì nàng mới biết rằng người lính đen đúa gầy gò ấy đã đi về một phương trời xa diệu viễn nào rồi. Kỷ vật duy nhất mà chàng còn để lại là chiếc áo trận phủ ấm cho nàng trong đêm lạnh dưới chân tượng Ðức Mẹ La Vang. Lúc sơ Theresa đã hoàn toàn bình phục, Ðại Úy William có đến thăm và từ giã nàng, nói chàng đã mãn nhiệm kỳ ở Việt Nam, chàng rất vui sướng khi nghĩ đến những ngày tương phùng với vợ con. William chăm chăm nhìn chiếc áo nhà binh mà sơ đang ấp ủ trong lòng như một báu vật, làm nàng thẹn thùng cúi đầu xuống. William thở dài: - Người ta tính quăng bỏ nó, nhưng tôi giữ lại cho sơ đó! Người nữ tu ngước lên nhìn người lính Mỹ lắp bắp: - Ðại Úy... có biết... ông ấy ở đâu không? William gật đầu: - Biết chứ, tôi ở cùng đơn vị với anh ta mà. William nhẹ nhàng đặt mẫu giấy nhỏ mà chàng đã viết vội mấy chữ xuống bên cạnh sơ Theresa Trinh, rồi anh đứng lên nói lời giã biệt: - Tôi phải ra phi trường cho kịp giờ. Tôi ra đi nhưng tôi không nghĩ rằng tôi không còn bao giờ trở lại đất nước này. Chúc sơ mau bình phục... À, mà sơ có định trở về ngôi nhà thờ đó không? Sơ Theresa chắp hai bàn tay lên ngực với tất cả lòng thành kính: - Về chứ..., tôi sinh ra và lớn lên ở đó mà! La Vang chưa yên, chưa về được, sơ Theresa tìm đến mấy tu viện ở Huế thì may làm sao, nàng đã gặp lại Mẹ Bề Trên và nhiều sơ khác cùng chạy từ La Vang về. Sau nhiều đêm trăn trở, cố gắng lắm, sơ Theresa mới dám mở lời xin Mẹ Bề Trên cho nàng đi tìm ân nhân. Mẹ Bề Trên đăm đăm nhìn nàng bằng ánh mắt thương xót, như của người mẹ dành cho đứa con, vì chính Mẹ đã đem nàng về nuôi từ thuở ấu thơ: - Con đi đi, Mẹ bằng lòng và vui lòng... Mẹ trao cho sơ một chiếc áo dài vải thô màu trắng và một chiếc nón lá cũ: - Con đi đường nên mặc như thế này cho giản tiện là hơn. Khi sơ Theresa Trinh lặn lội đến được chỗ mà William đã viết trong mảnh giấy, thì người ta nói cho biết người lính nàng tìm đã cùng đơn vị đi lên Triệu Phong rồi, ở phía bên kia con sông Thạch Hãn. Có nghĩa là xa, xa lắm. Ðịnh mệnh thật cay nghiệt. Chàng vừa lên xe đi, thì nàng đến. Sơ cố gắng đi tiếp, nhưng chỉ được một khoảng đường, thì người ta đã ngăn nàng lại bên bờ Nam sông Mỹ Chánh. Không một người thường dân nào được đi xa hơn nữa, vì phía Quảng Trị đang có đánh lớn, chỉ có lính ta và lính địch. Một chiếc xe nhà binh đã chở sơ cùng với nhiều người dân lạc loài trở về phương Nam. Sơ gục đầu lên thành xe, lạ lùng nhận ra rằng, nàng đang mang mễn một nỗi sầu não tái tê... oOo Cái bóng đen đứng bất động giữa khung cửa thánh đường, như một linh ảnh ma quái phiêu phưỡng chưa được siêu thoát, có lẽ là còn vướng vất mối oan khiên thương đau trên cõi trần gian. Cái hình hài đẫm máu trong chiếc áo rách nửa muốn bước sâu vào, nửa ngại ngần muốn quay lưng ra đi vì tự thấy tấm thân tàn tạ tanh tưởi của mình không thể làm ô nhiễm một nơi chốn thờ phượng trong sạch và thiêng liêng như thế này. Cái phần tinh anh duy nhất mà sơ Theresa còn cảm nhận được là đôi mắt sáng lóng lánh của chàng. Ôi, đôi mắt dịu dàng đó đã từng nhìn sơ với vẻ ái ngại xót xa, trong những giây phút nàng cận kề bên cái chết. Cũng đôi mắt đó hừng lên niềm hân hoan khi đem được nàng lên con tàu cứu mạng. Sơ Theresa run run buớc đến gần cái bóng ma, nàng lắp bắp gọi tên người lính: - Anh lính... anh Vinh, có phải là anh Vinh? Vinh buồn rầu gật đầu thay cho câu trả lời. Sơ Theresa Trinh bước nhanh đến cái hình thù gầy gò, lòng những muốn tỏ lời cảm ơn thiết tha, nhưng chàng đã hoảng hốt đi giật lùi, gót chân anh lướt nhẹ trên mặt đất. Sơ Theresa thảng thốt kêu lên: - Anh Vinh... anh đi đâu, người anh đầy máu thế kia, anh vào đây tôi chăm sóc cho anh... Vinh đau đớn xua tay từ chối, sơ nghe tiếng của chàng rền rền thê thiết như vọng lên từ đáy vực sâu nào: - Vô ích... sơ ơi... Tôi đâu có còn... xin vĩnh biệt ! Cái bóng rách rưới của Vinh chợt phóng vút lên cao và tan biến mất vào cõi đêm đen. Sơ Theresa kinh hoàng chạy theo kêu van: - Không, không... đừng đi... Anh không thể chết được đâu... Cái bóng ma đã tan loãng vào cõi thinh không như những sợi khói ẻo lả. Sơ Theresa nấc lên đau thương, nàng loạng choạng ngã chúi xuống úp mặt lên cái ngạch cửa nằm bất động... oOo Con tàu hú lên một tràng dài báo hiệu hành khách sắp đến ga Quảng Trị, để những người muốn xuống nơi này kịp chuẩn bị hành lý. Một chàng thanh niên khoảng ba mươi ngoài, người dong dỏng cao, dáng gầy gò đứng dậy mang một cái ba lô cũ đi dần đến lối lên xuống. Anh mặc một bộ quần áo kaki màu xanh sờn cũ trông rất giống bộ áo lính ngày trước của một quân đội đã không còn hiện hữu. Qua khung cửa kính, anh bồi hồi nhìn những cảnh vật vùn vụt chạy giật lùi, trong lòng dậy lên nỗi xốn xang nhức buốt. Anh nhớ lại những kỷ niệm vấn vương ở trên vùng đất này, vùng đất cày lên sỏi đá, mùa nắng thì bụi mịt mờ và gió Lào nóng cháy thịt da, mùa mưa thì dai dẵng và buốt giá tận xương tủy. Con tàu giảm dần tốc độ, tiếng còi tàu vang rền, làm anh nhớ lại khoảng đời mười năm trước, anh cũng hành trang lên con tàu như thế này đi vào cõi chiến tranh. Con tàu chầm chậm lướt qua những phố xá buồn thiu. Ôi, mười năm qua rồi mà sao Quảng Trị vẫn đắm mình trong một màu sắc xám xịt ảm đạm, những con người dật dờ di động dưới kia trong một trạng thái cam chịu ủ ê. Những chiếc xe đạp đã long hết nước sơn è ạch dưới những khối nặng, kẽo kẹt lăn bánh trên mặt đường, những quang gánh bán buôn dường như đã oằn nặng thêm trên những đôi vai gầy. Những chiếc xe bò cọc cạch chở rơm rạ, củi khô chậm rãi đếm từng tấc đất một trên một quãng đường gập ghềnh, không biết về đâu. Anh chợt hỏi lòng rằng, tại sao mình muốn xuống cái ga buồn ão não này nhỉ. Quê hương anh đâu có phải ở ngoài này, mà là ở bên kia Ðèo Hải Vân. Ðúng ra anh phải về trong đó chứ. Nên khi con tàu đã dừng lại, anh ngần ngừ, phân vân, không biết cái gì đã xui khiến, thúc giục anh vác ba lô đặt chân xuống nơi đây. Anh chặc lưỡi, lắc đầu bước xuống như trong một cơn vô thức. Anh không có gì lưu luyến ở thành phố nhỏ bé và hoang tàn này, anh chỉ ngơ ngác, bồi hồi đi dọc theo con đường chính xuôi về hướng Nam. Chàng thanh niên chợt nhận ra rằng, chàng đang muốn đi đến một nơi chốn mà đã thật quá mờ mịt trong ký ức, nhưng giờ đây đã trỗi dậy mạnh mẽ và rõ ràng. Trong lòng anh dậy lên một niềm hy vọng rất dịu dàng, rất xôn xao là, biết đâu anh sẽ gặp lại nàng... Từ trên một đỉnh đụn cát, người mặc áo lính đã có thể trông thấy cái hình thù đen xẫm của Vương Cung Thánh Ðường La Vang. Lòng tràn ngập xúc cảm, anh bỗng biết rằng mình đang đứng trên cái đồi cát mà ngày xưa anh đã cõng “thằng Mỹ” chạy giữa cơn lửa đỏ. Cảnh đó người đây luống ngậm ngùi. Ði lên một cái đụn cát nữa, chàng thanh niên ngước nhìn cái nóc nhọn của ngôi nhà thờ. Trái tim chàng cảm xúc đập nhanh trong lồng ngực. Giáo đường có thay đổi ít nhiều dưới bàn tay hồi phục của con người, nhưng những vết tích của chiến tranh vẫn còn lổ chổ in dấu khắp bốn mặt tường. Trái tim anh nhói đau một nỗi hân hoan trong một hy vọng lạ lùng, khi anh trông thấy một con người mặc chiếc áo dài trắng đang cúi người cuốc xới bên sân. Một dì phước thì phải. Nhưng sao nàng không mặc áo chùng mà lại là áo dài. Nàng làm gì giữa cơn nắng hạ như thế này. Chàng thanh niên hồi hộp bước vào chiếc sân bên cạnh thánh đường. Một linh cảm diệu kỳ nào đó dậy lên trong ý nghĩ của anh, anh thầm cầu nguyện Ðức Mẹ, rằng cô gái mặc áo dài trắng đó chính là nàng, người mà anh đã một lần tìm về trong một cơn mộng dữ hãi hùng... Chàng thanh niên gọi lớn: - Sơ ơi, cho tôi hỏi thăm. Cô gái dừng tay ngước mắt nhìn ra, nàng kéo chiếc nón lá trên đầu lên cao. Bỗng cô gái bủn rủn buông cây cuốc rơi xuống đất, nàng thảng thốt kêu lên: - Ôi, chúa ơi... là anh sao... Chàng thanh niên cũng đã nhận ra được khuôn mặt của, chính là dì phước của mười năm trước, chàng làm sao quên được nét ngây thơ thánh thiện ấy, anh phóng tới vừa kịp đỡ nàng ngã vào lòng: - Sơ... sơ... Cô gái giọng đứt quãng : - Anh lính... anh Vinh, phải anh Vinh không? Người mặc áo lính run lên khi nghe nàng gọi đúng tên chàng: - Dạ đúng... tôi là Vinh đây... tôi đã trở về... Thục Trinh gục đầu vào ngực người trai khóc nấc lên: - Anh còn sống sao, anh đã chết rồi mà... Vinh dìu cô gái ngồi tựa vào thành chiếc giếng cũ bên sân dịu dàng trả lời: - Tôi đã chết... nhưng không hiểu sao tôi được sống! oOo Người ta có một nhận xét vừa ngộ nghĩnh vừa thán phục về con người xứ Quảng. Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co. Thật lạ lùng, Vinh là đứa con được hun đúc từ cha người Quảng Nam và mẹ người Quảng Ngãi, nên đã thừa hưởng được đặc tính hùng biện đó. Cũng bởi hay cãi và hay co, cứng đầu cứng cổ không chịu khuất phục, tranh luận gay gắt với cai ngục, nên Vinh đã nhiều lần bị chúng đánh đập tàn nhẫn. Lần cuối cùng, Vinh bị dộng nhiều cái báng súng từ nhiều cánh tay khác nhau vào mặt đến nỗi thịt da nát bấy bá, mấy cái răng cửa của chàng rơi lổn nhổn đầy trong miệng. Rồi chàng thấy chàng bị quẳng vào một chỗ tối tăm, lạnh lẽo bốn bề đen như mực, tay chân bị cùm chặt. Vinh thở hắt từng đoạn ngắn, chàng đang hấp hối, chết dần. Thân thể chàng mềm nhũn như một con trùng đất, chàng có cái cảm giác rõ ràng là bộ xương dưới da thịt chàng đã bị dần bể nát thành trăm ngàn mảnh. Vinh nằm trên vũng máu đó không biết đã bao lâu. Khi người ta đã được đạt đến tận cùng sự đau đớn thể xác, thì tất cả dây thần kinh cảm giác cũng chết lịm theo, người ta không còn cảm thấy đau đớn nữa. Cái đó gọi là sự mở đầu của cái chết. Trong cơn mơ chập chờn, bỗng dưng Vinh thấy mình cất lên không trung như một thiên thần. Chàng bay hoài bay mãi lên cao và xuôi đầu về phương Nam. Vinh biết mình đã chết, cái hồn oan của chàng đang oằn oại, phưởng phất tìm về cố hương. Vinh đã sa xuống trước sân một cái nhà thờ mà chàng nhận được ngay, trời ơi, chính là nhà thờ La Vang. Vinh thờ thẫn, lạ lùng bước vào ngôi thánh đường. Ánh sáng dịu dàng từ bức tượng Ðức Mẹ Maria tỏa những vầng ngũ sắc, để chàng trông thấy một con người trong chiếc áo chùng đen đang kính cẩn quỳ dưới chân Ðức Mẹ. .. oOo Dưới bóng mát từ cái tán lá rộng của một cây thùy dương, người chồng âu yếm dùng một cái khăn nhỏ ướt nước lau những giọt mồ hôi trên vầng trán và trên hai cánh mũi thon của người vợ đang ngồi tựa lưng vào gốc cây. Người vợ vén tay áo của chồng lên, đôi mắt đẫm đầy lệ. Dù đã được nhìn thấy nhiều rồi, nhưng cứ mỗi lần những vết sẹo chằng chịt suốt dọc trên hai cánh tay gầy trơ xương của chàng hiện ra, nàng không thể không khóc. Xương thịt con người làm sao chịu được những cú đập của những thanh gỗ cứng sắc cạnh chứ. Nàng đớn đau hình dung lúc chàng đưa hai tay lên che đầu dưới những cú nện thật lực của những con người hung bạo với những thanh gỗ dài. Người chồng kéo tay áo xuống: - Thôi mà, quên đi, người gì mà nhiều nước mắt thế! Người vợ sụt sịt: - Anh đau lắm hả? Chàng cười hiền, mấy cái răng sún làm cái miệng dễ thương ngày xưa của chàng trông xấu xí quá đi: - Lâu quá quên mất rồi. Vinh cũng muốn quên lắm chứ, nhưng cứ mỗi lần trời trở gió đông, thì thân thể chàng oằn oại nhức buốt như có hàng trăm ngàn con kiến đang hung hãn đục khoét trong từng mạch máu và sớ thịt của chàng. Những lúc ấy, Vinh đã cắn môi đến bật máu, co rúm người quay mặt vào vách để khỏi làm kinh động giấc ngủ của vợ. Thấy nàng chăm chăm nhìn vào miệng mình, anh đưa tay lên che kín với vẻ bẽn lẽn, nhưng nàng đã kéo tay anh xuống nhỏ nhẹ: - Anh cứ để em nhìn, anh cười... trông có duyên ghê đi, chắc ngày xưa nhiều cô mê anh lắm phải không? Chàng phì cười: - Ngày xưa thì cũng đại... khái, nhưng bây giờ thì chỉ có một cô thôi! Người chồng dịu dàng phe phẩy chiếc nón lá quạt mát cho vợ: - Em ngồi đây, anh cuốc vài luống khoai nữa rồi mình vô nhà. Nàng nhìn chàng tha thiết: - Em cùng làm với anh ! Người chồng đặt tay lên bụng vợ xoa nhẹ trong nỗi hân hoan vô bờ: - Không đời nào, em cứ ngồi đây với cục cưng của chúng mình cho anh, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó... Ðến lượt người vợ che miệng cười khúc khích, nàng rót một chút nước từ trong chiếc ấm nhôm đen thui ra cái chén âu yếm trao cho chồng: - Anh uống đi rồi em nói cái này anh nghe. - Anh uống rồi, em nói đi. - Anh có nhớ ngày xưa, cái gì đã soi sáng để anh băng bó cho em không? Anh gãi đầu cố suy nghĩ : - Thì chiếc đèn pin của anh. - Ðèn pin mà sáng dữ vậy sao? - Vậy chẳng lẽ đèn... bóng? Thiếu phụ nghiêm mặt hờn trách, nhưng ánh mắt thật trìu mến: - Anh lính ngốc ơi... anh có tin vào phép mầu nhiệm không? Ngươi chồng giật nẩy người ú ớ, một tia chớp từ cõi quá khứ xa xăm vừa lóe lên trong tiềm thức của chàng: - A, anh biết rồi... Thôi anh biết rồi, anh tin, anh tin... Ðức Mẹ La Vang thật cao cả... Người vợ hai tay nâng khuôn mặt đen đúa hốc hác của người chồng nhìn thẳng vào đôi mắt nàng thì thầm: - Thế còn mối tơ duyên của chúng mình, một anh lính và một bà sơ? Người chồng ngơ ngác ngẩn người ra không biết trả lời làm sao. Ðó là điều mà chàng ấp ủ trong lòng mấy năm qua mà chưa từng tìm được câu giải đáp. Chàng chỉ nhớ bên bờ giếng năm nào, bàn tay mềm nhỏ của nàng đã run run nắm lấy bàn tay thô ráp của chàng: - Ðừng gọi tôi là sơ nữa, Mẹ Bề Trên bảo tôi phải trở về với trần thế... Từ nay tôi là Thục Trinh, chứ không còn là sơ Theresa... Không bao giờ Thục Trinh có thể quên được giây phút mà ánh mắt từ ái của Mẹ Bề Trên và bàn tay với những làn da nhăn nheo dịu dàng đặt nhẹ trên đầu nàng sau buổi cầu kinh: - Sơ Theresa, từ nay Mẹ cho phép con được trở về với đời sống thế gian... Sơ Theresa hốt hoảng nắm lấy bàn tay của Mẹ khóc nấc: - Con... con..., xin Mẹ đừng xua đuổi con ra khỏi Nước Chúa, con nguyện hiến dâng tất cả... Mẹ Bề Trên hạ người thấp xuống, hai tay Mẹ nâng mặt người nữ tu ngước lên nhìn bà, Mẹ lau nhẹ giòng lệ ướt trên đôi má tái xanh của nàng. Mẹ gật đầu mĩm cười, mà đối với sơ Theresa là nụ cười của người hiền mẫu: - Dù ở đâu thì Theresa con cũng là đang ở trong Nước Chúa. Con đừng có khóc lóc như vậy, thế gian còn nhiều đau khổ, con có sứ mạng phải sống với người thế gian, đó là ý muốn của Ðức Mẹ huyền nhiệm và cũng là của Mẹ... Thời điểm đã đến rồi... Chúa luôn ở cùng con và những người đau khổ! oOo Vinh đang lúi húi vun mấy luống khoai, thì bỗng chàng nghe có tiếng máy xe hơi từ phía quốc lộ vọng vào. Tiếng động cơ nổ dòn dã trong một trạng thái háo hức nào đó, những chiếc bánh xe nghiến rào rào trên con đường đất nhỏ dẫn vào khu nhà thờ. Vinh chống cuốc nhìn ra. Thục Trinh lạ lùng đội chiếc nón lá rách đứng bên chồng. Từ khúc quành của con đường đất xám, một đám bụi mù bốc lên, một chiếc Jeep quân đội ào ào phóng tới. Vinh ngẩn người tự hỏi với lòng. Trời đất, đã mười mấy năm qua rồi, mà tại sao vẫn còn loại xe Jeep này nhỉ. Chắc chắn không phải là “lính mình” ngồi trên đó rồi. Những chiến lợi phẩm này đã nằm trong tay những người chủ mới từ lâu. Ðúng như Vinh nghĩ, khi chiếc xe dừng lại trong sân nhà thờ, thì người tài xế trong bộ quân phục Nam Ðịnh nhảy xuống nhìn quanh. Người hành khách ngồi phía bên kia cũng phóng xuống. Một người ngoại quốc trong bộ y phục dân sự. Những ngón tay của Thục Trinh bấu mạnh lên cánh tay của chồng, nàng kêu khẽ: - Vinh, anh... cái ông đó, ổng... Vinh hấp háy mắt cố trông cho rõ. Ông khách đã nhìn thấy hai vợ chồng chàng, ông ta xoãi bước tới như một con ngựa, rồi ông ta phóng đến như một cơn lốc ôm chầm lấy Vinh hét lên, mà chàng nghe đúng là tiếng Mỹ: - Ðại Úy Vinh, Vinh phải không? Không cần nghe lời xác nhận của con người tồi tàn trong bộ quần áo kaki cũ vá víu, ông khách ghì chặt Vinh vào lòng. Hai cánh tay to tướng như cái vòng thép thít chặt lấy lồng ngực Vinh, làm chàng nghẹn thở, Vinh kêu toáng lên: - Tôi là Vinh, còn ông là cái ông hell gì đây? Ông khách buông chàng ra, hai bàn tay bóp chặt lấy hai chỏm vai của Vinh: - Vinh, Ðại Úy Vinh... Trời ơi, tôi tìm anh từ bấy lâu nay... Ðến bây giờ thì Vinh đã nhận biết cái anh chàng người Mỹ này là ai rồi. Vinh thấy đôi mắt của anh ta đẫm đầy lệ. Ðến lượt Vinh ôm lấy anh ta kêu lớn trong một nỗi hân hoan tận cùng: - Ðại Úy William, chính anh là William... Không trả lời bạn, ông người Mỹ xoay qua lịch thiệp đưa tay ra chào Thục Trinh: - Tôi đã biết bà đây là bà Theresa, tha lỗi cho tôi nếu tôi nói đúng bà là phu nhân của Ðại Úy Vinh. Thục Trinh bẽn lẽn và rụt rè nắm lấy bàn tay to đầy lông lá của William: - Hân hạnh được gặp lại ông. William nhìn theo ánh mắt ái ngại của người thiếu phụ về hướng anh chàng tài xế kaki Nam Ðịnh: - Bà đừng có lo, kể từ giây phút này, ông bà an toàn tuyệt đối! Quay qua người bạn cũ, William nắm chặt bàn tay gầy guộc của Vinh xúc động: - Ðại Úy Vinh lừng lẫy ngày xưa mà bây giờ tàn tạ đến thế sao? - Ðại Úy Ðại Uyết gì nữa ông ơi, bây giờ là phó thường dân rồi. Còn bạn bây giờ là cái hell gì rồi? Willaim nheo mắt cười cười: - Bạn đoán đi! Vinh ngắm bạn từ đầu đến chân : - Tối thiểu bạn phải cỡ Ðại Tá lấy lên... William xoay qua Thục Trinh: - Ông nhà đoán sai rồi, đến phiên bà. Thục Trinh cắn môi suy nghĩ: - Nếu vậy ông phải là một ông Tướng. William xoa tay vui vẻ: - Nhờ ơn trời... đúng như vậy. - Ngọn gió nào thổi ông tới đây vậy? - Ngọn gió lành. Tôi ở trong phái đoàn đàm phán bênh vực cho... Thôi, để sau này mình tâm sự nhiều. Bây giờ xin Ðại Úy Vinh và bà phu nhân làm ơn giúp tôi một chuyện... Vinh ngơ ngẩn : - Tôi còn có thể giúp gì được cho một ông Tướng... William choàng đôi cánh tay dài ngoằn ấp ủ vợ chồng Vinh: - Brothers In Arms, Huynh Ðệ Chi Binh... tôi muốn ông bà thu xếp chuyện nhà và đi ngay với tôi. - Ði đâu? - Ði đến cái nơi mà nhân phẩm của Ðại Úy Vinh và những người chiến hữu của Ðại Úy được tôn trọng. Vinh đã mường tượng hiểu cái chốn ấy là nơi nào. Nhưng sự việc diễn ra đột ngột quá, chớp nhoáng quá, đến đỗi Vinh không nghĩ chàng đang sống trong thực tại, mà chắc là một cơn mộng đẹp từ một hy vọng xa xỉ không bao giờ có. Vinh ngần ngừ: - Gì gấp dữ vậy ông, để thư thả vài ngày... William đưa hai tay lên trời: - Không có vài ngày đâu ông Ðại Úy thân mến của tôi, phi cơ đang chờ tôi ngoài phi trường Phú Bài. Tôi cho ông bà mười lăm phút, chặc, nửa tiếng, tôi ngồi trên xe chờ ông bà. Thục Trinh xen vào giải thích: - Chúng tôi phải xin phép Mẹ Bề Trên, với lại còn đồ đạc, quần áo. - Mẹ Bề Trên chắc chắn cho phép sự ra đi của ông bà. Còn quần áo, đồ đạc, quăng hết... William gục gặc đầu đắc ý: - Ðại Úy Vinh còn nhớ lúc tụi mình quẳng ba lô đạn dược nhảy lên trực thăng cũng tại chỗ này không? Vinh nhún vai: - Nhưng... tôi và bà xã tôi không thể vào sau được sao? William lắc đầu quầy quậy: - No, no, no.. Tôi đã thề với lòng là không bao giờ cho phép mình để cho bạn biến mất trước mũi tôi lần nữa. Bà xã tôi bảo tôi nhất định phải tìm cho được Ðại Úy, nếu không thì đừng về nhìn... mặt bà ta nữa! Phạm Phong Dinh |
|