

|
Trọng Ðạt Hai quả bom nguyên tử ném xuống đất nước Phù Tang. Quân Nhật đầu hàng Ðồng Minh, cuộc chiến tranh đẫm máu của nhân loại hoàn toàn kết thúc. Việt Minh thừa cơ nước đục thả câu cướp chính quyền tại Hà Nội, quân Pháp theo chân quân Anh đi giải giới quân Nhật, đổ bộ vào Sài Gòn để tái lập chế độ thực dân ăn trên ngồi chốc như trước kia. Quân Tầu sang giải giới quân Nhật tại miền Bắc rồi ở lì lại, Việt Minh thuận cho quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng và về Hà Nội để đuổi quân Tầu về nước. Thực dân ngoan cố, Việt Minh gian giảo, mạt cưa mướp đắng gặp nhau để rồi Thế Chiến Thứ Hai vừa chấm dứt, một cuộc chiến tranh khác đẫm máu và dai dẳng lại bắt đầu. Nửa đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, Việt Minh tấn công quân Pháp tại Hà Nội, mở đầu cho cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Bị đè bẹp họ phải rút vào hậu phương hô hào toàn quốc kháng chiến. Ở làng tôi thanh thiếu niên, phụ nữ, dân quân... ai nấy hăng hái tham gia cách mạng. Quân Pháp thắng thế tiến nhanh như gió cuốn, chiến tranh lan tràn xuống quê tôi. Tôi chạy loạn từ khi còn bé, lúc đó tôi mới lên bẩy, hai đứa em tôi lên ba lên bốn, chúng tôi đã theo thầy mẹ chạy loạn hết làng này sang làng khác. Chạy loạn nhiều lắm nhưng nay tôi chỉ nhớ được có vài lần. Một lần nhờ phúc đức ông bà để lại tôi mới còn sống sót để viết lên những hàng chữ này. Lần chạy loạn ấy tôi không bao giờ quên được. Tôi nhớ một hôm chúng tôi chạy ra ngoài đồng trong khi xe tăng của bọn lính Tây đang gầm gừ tiến trên đê làng, chúng từ Hà Ðông về đánh đuổi Việt Minh. Hôm ấy tôi nằm cạnh anh tôi bên bờ ruộng, nhìn lên đê thấy những chiếc xe tăng đang lầm lũi chạy, bỗng một chiếc dừng lại, rồi gần chỗ chúng tôi nằm tự nhiên bụi đất tung lên. Anh tôi hốt hoảng kéo tay tôi bảo: – Chạy đi mày ơi, nó bắn! Thế là hai anh em tôi nắm tay nhau chạy thục mạng về phía cánh đồng. Hôm ấy chúng đưa xe tăng về thị uy, bắn phá lung tung. Việt Minh, dân quân cao chạy xa bay hết. Một lần cả gia đình tôi bồng bế nhau chạy ra quê ngoại. Lần này có hôm cả nhà cũng chạy ra nằm rạp xuống bờ ruộng. Tôi nhớ như in trong trí cảnh hai bên giao tranh, đạn lửa từ trong cụm rừng nhỏ bắn ra như mưa bấc vậy. Tôi còn nhớ chị tôi nói khe khẽ bên tai tôi: – Ðạn lửa, giời ơi ghê quá! Hôm ấy tôi thấy xa xa một người nông phu vẫn bình tĩnh cầm cái cầy đi theo sau con trâu. Hôm sau kể lại cho anh tôi nghe, anh tôi nằm chỗ khác nên không tin bảo: – Mày nói láo, đang đánh nhau ai dám cầy ruộng! Nhưng tôi nhớ rõ hình ảnh người nông phu ấy, chắc là quá chán chường nên không thiết sống là gì. Rồi lại chạy loạn ở làng tôi. Hôm ấy nhà tôi và nhiều người làng kéo nhau ra bên ngoài lũy tre xanh, xuống nằm dưới mấy cái hố lớn tránh đạn, bỗng có người lính Tây trắng đi cùng một anh lính ta đến bên miệng hố. Mọi người giơ tay hàng: – Bẩm quan lớn ạ! Người lính Tây trắng đưa tay bảo: – Tiền, tiền, tiền! Tôi thấy mấy người lớn dốc hầu bao lấy tiền đưa cho anh lính Tây trắng. Lấy tiền xong hai tên lẳng lặng bỏ đi. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy một người Tây trắng, công dân nước Ðại Pháp, trung tâm văn hóa của Châu Âu và của cả Thế giới nữa! Người ấy chỉ biết một chữ tiếng ta: “tiền” và anh ta cũng chỉ cần biết thế! Ðâu đã hết, gia đình tôi và cả gia đình chú tôi có lần phải chạy sang các làng Táo, làng Vàng, làng Hạ ở bên kia sông. Làng Táo toàn những là táo, nhà nào cũng có một vườn táo chi chít những quả. Thầy tôi có ruộng đất ở những làng này nên quen biết nhiều người. Lần sang sông này cũng ghê rợn lắm, máy bay khu trục của bọn thực dân ở đâu sà xuống bắn “tạch! tạch! tạch!” khiến mọi người phải chạy ra núp dưới mô đất ngoài hàng rào. Hôm ấy chú tôi than: – Lạ thật, đã theo nó rồi mà sao nó vẫn bắn phá ghê quá thế chứ! Chiến tranh dần dần nguội đi ở quê tôi, Việt Minh đã rút đi thật xa, Tây trắng Tây Ðen không về làng khủng bố bắn giết nữa, chúng tôi lại được sống trong cảnh thanh bình nhưng chỉ là thứ thanh bình giả tạo. Thấm thoát tám năm khói lửa đã trôi qua, Hiệp định Giơ-Ne-Vơ chia đôi đất nước vừa ký kết xong, Việt Minh về tiếp thu Hà Nội, gia đình tôi di cư vào Nam. Chúng tôi được đưa tới trại di cư thuộc khu vực Bình Xuyên bên kia cầu Nhị Thiên Ðường. Bình Xuyên là một đảng cướp lớn nhất miền Nam thời ấy, họ có một đạo quân đông đảo, chủ lực là năm tiểu đoàn công an xung phong, ăn mặc y như quân đội Quốc Gia, chỉ khác cái mũ nồi be rê mầu xanh lá cây, chúng được Pháp trang bị, cũng có xe díp, quân xa. Thủ lãnh là Bảy Viễn tức Lê Văn Viễn. Thời kỳ quân Pháp trở lại Ðông Dương, tại Sài Gòn hắn có một lực lượng cách mạng chống Pháp mạnh nhất hồi ấy, khoảng hơn một ngàn tay súng, sau theo Việt Minh, rồi lại ra hàng theo Pháp. Ðược thực dân nâng đỡ hắn tổ chức cờ bạc, mãi dâm công khai tại Chợ Lớn như Kim Chung, Ðại Thế Giới. Từ một tay cách mạng, Bảy Viễn đã trở thành tên tay sai Pháp, rồi làm thủ lãnh đảng cướp. Hắn tự phong là Thiếu Tướng Tư Lệnh Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, chống lại chính phủ của thủ tướng Ngô Ðình Diệm. Ở trại được một tuần, gia đình tôi dọn đến trọ nhà một người cùng làng ở gần đấy. Nhà này quen mấy ông sĩ quan Bình Xuyên, một ông quan ba thường gọi là Ba Ló hay ghé chơi, có lần tự nhiên ông bảo: – Bắng chớt thằng Ngô Ðừn Diểm, vức nó xuống sông, cức cức! Cái chắn phủ cức! Nghe ông ấy nói mới biết Bình Xuyên và chính phủ Quốc Gia đang xung đột. Chúng tôi đọc báo, nghe tin tức được biết Quân Ðội Quốc Gia và lính Bình Xuyên sắp sửa đánh nhau, tình hình ngày càng găng hơn trước. Thủ tướng Ngô Ðình Diệm đóng cửa các sòng bài và chốn ăn chơi như Kim Chung, Ðại Thế Giới của Bình Xuyên. Bảy Viễn tức giận lắm, hắn cho lính khiêu khích Quân Ðội Quốc Gia. Thế rồi hai bên đụng độ, đạn bay súng nổ ầm ì giữa Sài Gòn Chợ Lớn. Hôm ấy cả nhà tôi lại cùng mọi người trong khu vực kéo nhau chạy ra giữa cánh đồng, mọi người trố mắt nhìn ngọn lửa cao ngất khủng khiếp đang phừng phực ở phía Sài Gòn, có người bảo: – Chắc là cháy cây xăng rồi, lửa cao khiếp quá! Quân đội Bình Xuyên dàn ra hai bên vệ đường nghinh chiến, bỗng một cái máy bay bà già của ký giả bị trúng đạn, cháy và rớt xuống gần đấy khiến ai cũng sợ hết hồn. Chiều hôm ấy tình hình đã dịu hơn trước, gia đình tôi và mấy người cùng làng phải dọn lên Gia Ðịnh vì Quân Ðội Quốc Gia sắp tổng tấn công qua khu vực Bình Xuyên. Chúng tôi băng qua cầu Nhị Thiên Ðường, lính Bình Xuyên đặt mìn chờ Quân Ðội Quốc Gia đến là giật sập cầu. Qua cầu một quãng xa chúng tôi đến Bình Ðông, nghe tiếng súng nổ xa xa ai nấy hồi hộp mong cho chóng thoát khỏi vùng lửa đạn. Gia đình tôi thuê xích lô máy chạy ào ào về phía Gia Ðịnh, thế là thoát nạn. Lính nhẩy dù của Quân đội Quốc Gia bèn mở cuộc tấn công vào các doanh trại của Bình Xuyên, lính Bình Xuyên thua chạy như vịt vào rường Sát rồi lũ lượt ra hàng. Gia đình tôi kiếm sống vất vả tại nơi xứ lạ nhưng đổi lại được sống yên ổn tự do. Tôi thi đậu vào lớp đệ thất trường trung học công lập, nhà nghèo được cắp sách đi học là quí lắm rồi. Miền Nam chỉ yên ổn được mấy năm rồi lại bị chiến tranh xâu xé như không bao giờ dứt. Sau cuộc đảo chính ông Diệm, quân Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam, Cộng quân ngày càng gia tăng áp lực, miền quê hầu như đã lọt vào tay địch. Gia đình tôi được nghe những người từ thôn quê di cư lên thành thị kể những nỗi khổ ải của họ, chúng tôi lại nhớ đến những ngày chạy loạn gian nan ngày trước. Tôi lên đại học được mấy năm thì xin được chỗ dạy tại trường trung học thuộc Bảo Lộc-Lâm Ðồng, một tỉnh cao nguyên gần Ðà lạt. Tôi nhận việc sau cuộc đảo chánh chừng một năm. Có lần đi xe đò về Sài Gòn bị Việt cộng chặn đường, đó là lần đầu tiên tôi gặp Việt Cộng ở miền Nam, trên xe đò ai nấy mặt xanh như chàm, nhưng chúng chỉ hỏi tài xế mấy câu rồi cho đi. Rồi mặt trận ngày càng mở rộng hơn, tôi đi xe đò lên Bảo Lộc bị chặn đường như cơm bữa. Có khi mấy anh Ba mời mọi người vào trong vườn nói chuyện, khi giật sập cầu, khi đào đường. Hồi ấy qua cửa kính của trường học, tôi hay nhìn ngọn núi xanh xanh cao ngất phía trước, thế mà có ngờ đâu mười năm sau tôi leo qua ngọn núi ấy. Tôi bỏ ngành giáo dục về học ngành hành chánh được một năm thì xảy ra biến cố tết Mậu Thân. Hồi ấy cũng may nhà tôi ở vùng Phú Nhuận không bị tấn công, miệt Gò Vấp, Chợ Lớn có giao tranh dữ dội, khói lửa ngút trời, người ta bồng bế nhau chạy loạn gợi lại cho tôi những hình ảnh chạy loạn xa xưa nơi đất Bắc. Gia đình tôi không phải chạy loạn nhưng người ta vẫn chạy loạn khắp nơi. Tôi ra làm công chức tại Sài Gòn được mấy năm thì tới mùa hè đỏ lửa 1972, đồng bào miền Trung chạy loạn trên đại lộ kinh hoàng bị địch pháo kích theo chết như rạ vậy. Khi ấy gia đình tôi được hưởng hòa bình nhưng cũng chỉ là hòa bình giả tạo vì chiến tranh vẫn kéo dài lê thê không dứt. Trước ngày ký hiệp định Ba lê tôi bị đổi lên làm tại Quảng Ðức, một tỉnh nhỏ gần sát Ban Mê Thuột. Khi hiệp định vừa ký xong, trên thế giới cũng như trong nước ai nấy hân hoan phấn khởi tưởng như không bao giờ còn chiến tranh, nhưng cũng chỉ là một cảnh hòa bình giả tạo. Một năm sau tự nhiên lại diễn ra trận đánh lớn gần biên giới thuộc quận Khiêm Ðức tại tỉnh tôi, dư luận trong nước bàng hoàng. Cái gì phải đến sẽ đến. Năm sau địch tấn công Phước Long ồ ạt, sau một tháng cầm cự tỉnh đã thất thủ, những người chạy loạn mặt mày lem luốc sang tỉnh tôi, trông thấy họ chúng tôi chợt nghĩ đến số phận sắp tới của mình. Ðịch tập trung quân đội đông đảo tại biên giới tỉnh tôi và Phước Long. Chiến tranh ngày càng lan rộng tại Ðông Dương, Khmer Ðỏ mở những trận đánh ác liệt tại xứ Chùa Tháp. Tổng cộng 13 quận lỵ ở miền Trung đã lọt vào tay địch, vàng lên giá vù vù ghê gớm, mọi người đều đoán biết chiến sự sẽ diễn ra dữ dội tại đây. Rồi một người bạn hành chánh của chúng tôi có hôm cho biết điềm xấu: – Tôi thấy con mang rồi, nó y như con bê ấy, màu nó vàng vàng, tôi thấy nó chạy ngang đường, nó lăn ra đất vài vòng rồi chạy biến vào trong rừng. Người ta nói “mang lạc nát làng” nó mà xuất hiện là xui lắm, thế nào cũng có chuyện dữ. Ít lâu sau, công chức sĩ quan trong tỉnh xuống một cái ấp của đồng bào Thượng gần phi trường Nhân Cơ để dự lễ cúng của họ. Người ta tế sống một con trâu. Cảnh tượng rất hãi hùng, con trâu bị đâm ngã quị rống lên ghê rợn, máu chảy chan hoà man rợ, trống chiêng nổi lên dữ dội hòa với những lời cầu khấn quái dị y như tại một bộ lạc Châu Phi, Châu Úc. Thế rồi tự nhiên một đàn ong đông vô kể ở đâu bay qua lễ đài rồi biến mất hút tận chân trời. Người Thượng dự lễ ai nấy buồn so vì họ cho đó là điềm xấu, xóm làng, buôn sóc của họ rồi đây sẽ tan tác phân ly. Ai nấy lo âu thì thào bàn tán, ông đại tá tỉnh trưởng nghe được cáu lắm, nhân một phiên họp đầu tuần ông ấy đỏ mặt tía tai tuyên bố một câu xanh rờn, rất là “yên hùng” như sau: – Nếu có đánh lớn, tỉnh có bị bao vây tôi sẽ cho trực thăng riêng đưa các anh lên Ban Mê Thuột, ai muốn chiến đấu thì ở lại, tôi không bó buộc ai cả. Các anh nhìn mặt tôi xem tôi có phải thằng thất hứa không? Nghe vậy người ta cũng yên tâm chút đỉnh. Sáng ngày mồng 10 tháng 3 năm 1975, một buổi sáng đẹp trời, nhóm viên chức hành chánh đang ngồi quây quần đánh đàn, uống cà phê, đàm đạo. Họ ở cùng một dẫy cư xá chỉ đi bộ vài chục thước là gặp nhau, học cùng một mái trường hành chánh, là cấp ty sở trưởng tại đây, đa số là những người ba gai hay ra trường đậu thấp nên mới bị đẩy lên cái tỉnh khỉ ho cò gáy này, ít nhất là hai năm mới được xin đổi đi nơi khác. Ðộ này tình hình tự nhiên êm ả lạ, các anh em vui vẻ thản nhiên nghe tiếng đàn ghi ta thánh thót của Thành y như đang sống trong cảnh thanh bình thịnh vượng từ bao năm qua. Thắng cất tiếng hỏi mọi người một cách thành thật: – Tôi xin hỏi các cậu nhá! Các cậu thích một cuộc sống thế nào, khi về hưu sẽ sống ra sao? Mai kia hòa bình các cậu có ước vọng gì trong cuộc đời mình không? Mỗi người trong bọn đều diễn đạt ước muốn của mình. Thành đặt cây đàn xuống cho biết muốn có một căn nhà xinh đẹp tại một nơi yên tĩnh để đi câu cá, ngắm trăng trồng trọt, khi rảnh thì làm thơ. Thắng thì chỉ thích đi buôn, mở cửa hàng cửa tiệm để thành ông chủ, thành thương gia gộc. Bỗng có tiếng thắng xe díp nghe két két, một ông bạn đại úy hớt hải chạy vào cho biết: – Nó đánh Ðức Lập tối hôm qua, ông quận trưởng chạy được. Có gì mới tôi sẽ cho hay! Mọi người cụt hứng khi nghe tin chẳng lành, buổi đàm đạo tan rã. Quận Ðức Lập bị địch tấn công dữ dội tối qua nay đã mất, đó là trận khởi đầu của mặt trận cuối cùng, cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ đã đến hồi kết thúc. Ðức Lập là một quận thuộc tỉnh của tôi, gần Ban Mê Thuột, nơi mà hai mươi năm trước đây đồng bào di cư Công Giáo Nghệ An đến định cư, một địa phương trù phú nhất của tỉnh có nhiều đồn điền cà phê, và rồi hôm sau Cộng quân tiến chiếm Ban Mê Thuột. Chúng tôi bị bao vây hoàn toàn vì tỉnh chỉ có một đường bộ duy nhất qua ngả Ban Mê Thuột. Vợ con các viên chức trong tỉnh được đưa ưu tiên đưa đi bằng máy bay trực thăng sang Lâm Ðồng, ra Nha Trang, mấy hôm sau các viên chức Quốc Gia Hành Chánh chúng tôi được gọi lên tư thất ông phó tỉnh trưởng, ông cho biết đại tá tỉnh trưởng sẽ cho chúng tôi di tản bằng máy bay hết nhưng ông sẽ cho đi từ từ vì sợ bên quân đội người ta phân bì. Ông nói ông sẽ sang bên ấy lập văn phòng đại diện cho tỉnh nhà, kế đó là đọc tên mấy người được ông đại tá cho đi trước, toàn là những người trong phe nhóm cả. Ông phó sang Lâm Ðồng rồi ở luôn bên ấy, chúng tôi bèn kéo nhau lên ở tư thất ông ta cho an toàn hơn. Ðó là những ngày thật đen tối chán chường, những ngày chờ đợi và lo âu không cùng. Có lần nghe đài BBC Luân Ðôn nói về cuộc di tản cao nguyên, người xướng ngôn viên ném ra những lời đe dọa ghê gớm: ”... Tổng thống Thiệu đã cho lệnh rút bỏ các tỉnh cao nguyên để về giữ miền đồng bằng, ông khó hy vọng lấy lại các phần đất đã mất của mình. Ðây là một cuộc chạy loạn lớn nhất trong lịch sử chiến tranh tại miền nam nước Việt từ trước đến nay, Sài Gòn có thể bị tấn công vào năm tới!” Nghe xong có anh thở dài bảo: – Sài gòn rồi cũng như Nam Vang, Mỹ đã đổi chính sách rồi, mình có chạy được về Sài Gòn thì cũng thế thôi. Anh ấy nói đúng nhưng mọi người không tin và cũng không muốn tin là thật. Thỉnh thoảng ông đại tá mới cho đi vài người, tư thất ông phó cách dinh ông Tỉnh có vài chục thước, chúng tôi nhìn sang thấy ông vẫn mặc áo may ô đi lại thanh thản trong khi ai cũng sốt ruột mong được máy bay bốc đi, lúc ấy chẳng ai còn tình nghĩa với ai, người ta sẵn sàng đạp lên đầu người khác để chạy. Phi trường Nhân Cơ cách tỉnh hai chục cây số bắt đầu lâm nguy, các đơn vị địa phương quân, biệt động quân phải chống trả với lực lượng địch đông gấp mười lần, thuốc men đạn dược ngày một cạn nên phải rút dần về tỉnh. Ngày khởi đầu trận đánh đến nay thấm thoắt đã gần hai tuần qua. Ông đại tá cho gọi hai người trong bọn chúng tôi sang bên tư dinh để lên trực thăng qua Lâm Ðồng. Một anh vừa qua đã vội viết thư rồi bảo người lính gác mang sang cho chúng tôi. “Các anh em thân mến, Chúng tôi vừa sang đây được đại tá cho biết chiều nay sẽ có chuyến nữa, sang Lâm đồng xong ông ấy sẽ quay về đón tất cả các anh em. Cầu mong cho nó có, ông ấy hỏi thăm tôi về tình hình sức khoẻ và tinh thần của anh em rồi bảo “tội quá! sao các anh em không sang bên này ở với tôi, chiều nay tôi sẽ quay về đón tất cả”, ông ấy nói nghe tội lắm! Theo tôi biết ông ấy còn quay trở lại tỉnh vì còn giải quyết nhiếu vấn đề, xin các anh em cứ bình tĩnh, yên tâm lần lượt sẽ được bốc đi hết. Tôi không biết nói gì hơn là chúc cho các anh em được vạn phần may mắn bình yên. Xin Trời Phật phù hộ cho các anh em.” Ông ấy hứa với chúng tôi sẽ trở về đón tất cả những người còn lại, nhưng không bao giờ ông ấy trở lại, ông đã vét hết tiền trong ngân khố đem lên máy bay. Sang tới Lâm Ðồng, ông đại tá gọi về tỉnh và báo cáo lên Bộ Tư Lệnh Vùng nói máy bay trục trặc không thể về được. Người nhân viên tổng đài điện thoại Lâm Ðồng đã được nghe những lời chửi rủa thậm tệ của thiếu tướng vùng dành cho ông đại tá bỏ chạy: – Anh là thằng khốn nạn! Anh là thằng chó đẻ! Tôi không ngờ anh khốn nạn đến thế! Anh đã đánh lừa tôi! Anh là thằng chó đẻ! Tôi sẽ đưa anh ra toà án quân sự! Anh là thằng... Khi ấy mấy người sĩ quan bên quận Châu Thành liên lạc máy với chúng tôi bảo chuẩn bị lên đường, hễ nhận được lệnh của tiểu khu là đi ngay. Ông tiểu khu phó biết ông đại tá đã tẩu vi thượng sách từ sáng bèn lệnh cho ba quân chuẩn bị nhổ sào ra khơi. Chúng tôi đem túi xách hành lý chuẩn bị sẵn sàng, rồi tiếng người nói trong máy nghe rõ mồn một: – Sao lên xe cả chưa? Sắp đến giờ xuất quân đấy. Khi ấy ở ngọn đồi bên kia thung lũng có tiếng nổ long trời, ai nấy giật mình nhìn sang, kho đạn của đội pháo binh bị phá hủy, lửa phừng lên dữ tợn, khói tỏa mù mịt y như trong các phim chiến tranh vậy. Tại các ngọn đồi xa xa người ta cũng cho nổ các kho đạn, phá hủy súng ống để khỏi bị lọt vào tay kẻ địch. Ðại đội truyền tin gần đó cũng phá máy móc, đốt các tài liệu, những tiếng nổ ầm ầm long trời lở đất rung chuyển cả một vùng. Bên quận gọi máy bảo “đi”, thế là chúng tôi lên xe chạy vọt ra khỏi cơ quan chính quyền tỉnh. Hằng trăm xe dân sự, nhà binh nối đuôi nhau từ khu phố chợ, từ tiểu khu về phía Lâm Ðồng, cả tỉnh di tản đông vui như tết, tiếng đạn ở các kho bị phá hủy vẫn nổ ầm ầm khắp nơi. Chạy mấy tiếng đồng hồ thì vào tới rừng, trời bắt đầu tối mịt, mọi người dừng lại nấu cơm nghỉ ngơi lấy sức. Sáng ra xe công binh mở đường, đoàn xe lại tiếp tục leo đèo xuống dốc trông y như đoàn lữ hành trong một cuốn phim phiêu lưu mạo hiểm. Ðến một con suối đoàn xe phải dừng lại vì Việt Cộng ở bên kia vác súng chặn không cho qua. Mọi người lại dừng chân đun nước nấu cơm, tôi nghe anh em thì thào “Biệt động quân bỏ dân đi” bèn chạy theo ông đại úy tiểu đoàn trưởng hỏi: – Ông ơi! các ông đi đâu thế? – Chúng tôi lên đồi ngủ cho an toàn chứ có gì đâu. Người ta lại đồn các ông trung tá, thiếu tá... bỏ dân đi khiến tôi hoang mang lo sợ, bèn ngước mắt nhìn lên những lùm cây và những ngọn đồi cao dưới ánh trăng, miệng lâm râm cầu Trời khấn Phật cho yên tâm hơn. Tôi lại trải miếng poncho ra đất ngủ vùi. Tiếng huyên náo làm tôi bừng mắt thức dậy, cũng lại tin đồn các ông tá, các ông đơn vị trưởng bỏ dân lại đi đường khác rồi. Thấy trung úy Nhành đại đội trưởng trinh sát đứng gần đấy tôi bèn lại gần hỏi: – Nghe nói các ông xếp bỏ dân đi đường khác phải không? – Ðúng. – Ông cho tôi đi theo ông được không? – Ðược, nhưng từ từ đã. Ông quay lại bảo lính lẳng lặng lách sang bên kia tách dân ra mà đi, dân đông quá, mình đâu có lo cho họ được. Trung úy Nhành trước đây đóng ở gần nhà ông phó tỉnh, đã đôi ba lần truyện trò và có cảm tình với tôi. Thấy ông và đám lính lẳng lặng kéo nhau đi tôi cũng đi theo sau. Họ lách vào một lùm cây rồi đi vòng theo một sườn đồi nho nhỏ. Thật may mắn cho tôi được đi theo những người tử tế lại biết rõ đường đi, họ là những người đi rừng nhà nghề, thuộc lầu đường đi ở đây như trong lòng bàn tay. Ðại đội chừng hai chục người, toàn là lính trẻ thật thà dễ thương. Ðại đội trinh sát đã tách khỏi đám đông lên được đồi cao, nhìn qua lùm cây tôi thấy dân chúng hớt hải chạy lui chạy tới, họ la ó kêu khóc thảm thiết trông thật hãi hùng. Ðàn bà trẻ con bị bỏ lại giữa rừng sâu kêu khóc như ri. Bây giờ họ mới biết mình bị bỏ rơi, những tiếng thét hãi hùng của đám đông ngày càng náo động, tôi dừng chân đứng nhìn họ một lúc rồi rảo bước theo đại đội trinh sát. Chúng tôi khoảng hơn hai chục người leo lên dốc rồi quành sang một ngã khác. Tiếng kêu la của đám đông tuyệt vọng lùi dần về phía sau. Ðường đi nhiều chỗ thật gai góc, chúng tôi phải nắm tay kéo nhau mới lên được bờ cao, có lúc phải vượt suối có những tảng đá trơn trượt, nếu sẩy chân có thể ngã bể đầu. Một lúc sau có chiếc máy bay thám thính quần quần trên trời, mấy người lính lấy cái gương đưa ra ánh nắng soi lên trời, máy bay sà xuống thấp một chút rồi lại bay vút lên. Các đơn vị lạc trong rừng quá đông. dẫu có biết cũng không sao cứu hết được. Chúng tôi nghỉ ngơi một lúc rồi lên đường qua những chặng quanh co rậm rạp mới tìm ra lối đi. Ðường này đã có một toán đi qua trước đây, họ vứt lại một số hành lý như cặp túi, radio, quần áo... vì thấm mệt. Ði mãi đến xế chiều thì đến sông Kinh Ðà, nước chảy ào ào như thác qua các tảng đá chất đầy giữa lòng suối và hai bên bờ, hàng ngàn người đã tới được chỗ này, nhiều người xuống chỗ gần bờ tắm gội vui chơi. Trung úy Nhành hò hét đàn em chặt tre nứa đóng bè, kết dây để qua sông, mấy tiếng sau thì bè hoàn tất. Chuyến đầu chở một nhóm qua, xong lại dùng dây kéo bè trở lại bờ cho toán khác qua. Trời sẫm tối thì đã qua được gần hết, tôi và mấy người cuối cùng lên bè để bên kia kéo qua sông. Ði đến đâu cũng điểm danh, họ cũng coi tôi như một nhân số của đại đội. Bè đã ra giữa sông, nước chảy siết nên bè đi rất chậm, bên kia kéo dây, trên bè cũng có người cầm sào phụ đẩy để chống chỏi với giòng nước chảy ào ào như thác. Trong cuộc vượt sông di tản có nhiều người chết đuối, phần nhiều không làm bè và bơi thẳng qua sông, cũng có người bị cá sấu cắn chết. Ngó sang bên kia sông tôi chỉ thấy lờ mờ những lùm cây, trăng chưa lên cao, cảnh vật chìm trong bóng đêm đầy đặc. Sóng vỗ vào mạn bè kêu róc rách khiến tôi nhớ lại hồi còn nhỏ đi đò qua sông. Ngoài tiếng sóng vỗ chỉ có tiếng chim kêu quang quác trong các lùm cây. Bè đã tiến lại gần bờ rồi cặp sát vào, mấy người trên bờ đưa tay kéo anh em lên, có người bị ướt sũng. Chúng tôi leo vòng lên một ngọn đồi, hàng ngàn người đã lên được trên ấy, họ đốt lửa nấu ăn. Chỗ này một đám, chỗ kia một đám trông y như một cuộc cắm trại. Chúng tôi đun nước pha sữa, cơm sấy quây quần ăn uống, hút thuốc vui vẻ. Ông tiểu khu phó, người cao lớn, đi loanh quanh thăm binh sĩ rồi ôn tồn bảo: – Các anh em sang được đây như thế này là tinh thần cao lắm rồi, các anh em giữ sức khoẻ mai đi tiếp, chỉ vài ngày nữa là tới Lâm Ðồng. (còn tiếp) Trọng Ðạt |
|